DIỄN ĐÀN NGƯỜI DÂN VIỆT NAM

XÂY DỰNG CÔNG BẰNG THỊNH VƯỢNG NHÂN BẢN

Nguyễn Trọng Dân : Bàn sơ lược về mối bất hòa giữa đảng và quân đội.

E-mail Print

 



Quân đội (chỉ) lo làm kinh tế. Ảnh Internet 

Kể từ khi tướng Nguyễn Chí Vịnh khẳng định quân đội không làm kinh tế đơn thuần mà là làm kinh tế quốc phòng, và do đó, theo Vịnh, quân đội không những cần phải tiếp tục làm kinh tế mà còn cần phải làm kinh tế mạnh hơn nữa vào tháng Bảy năm 2017, thì sự căng thẳng bất hòa giữa giới tướng lãnh bộ Quốc phòng trong đó có tướng Vịnh và phe đảng tịch mà đứng đầu là Nguyễn Phú Trọng, Kim Ngân, Nguyễn Xuân Phúc càng lúc càng trở nên gay gắt. Phe đảng ủy của Trọng muốn hạn chế bớt, cũng như muốn kiểm soát chặt chẽ hơn quyền lợi kinh tế của quân đội. Lời tuyên bố của tướng Vịnh thẳng thừng như thế chẳng khác nào tát tay thẳng vào mặt phe đảng ủy của Trọng vào thời điểm 2017.

Sau lời tuyên bố của tướng Vinh được một năm, phe quân đội của Vịnh lại được thắng lớn trước phe đảng tịch khi đẩy được tướng Hùng, nguyên Tổng giám đốc tập đoạn Viễn thông Quân đội, gọi tắt là Viettel, vào làm bộ trưởng bộ Thông tin và Truyền thông vào tháng Bảy năm 2018 một cách thành công. Tướng Hùng về mặt cấp bậc quân đội là đàn em của tướng Vịnh và Lịch, nay lên nắm bộ này thì coi như bộ Quốc phòng sẽ có khả năng kiểm soát bộ này một cách trực tiếp thay vì là Nguyễn Xuân Phúc ở cương vị Thủ tướng.

Thế nhưng quân đội đã không đủ mạnh ở trung ương để cản trở Trọng trở thành Chủ Tịch Nước (CTN) ở vị trí tổng bí thư (TBT) vào tháng 10 năm 2018, thế là phe đảng tịch của Trọng phất cờ quất ngược lại đập phe quân đội ngay lập tức.

Cụ thể chỉ hai tháng sau khi Trọng nắm chức CTN kiêm TBT, người ta thấy đồng loạt 14 đơn vị công binh cấp lữ đoàn trực thuộc bảy tổng công ty(TCT) làm ăn kinh tế của quân đội bị giải thể. Bảy tổng công ty này bao gồm TCT36, TCT 319, TCT Đông Bắc, TCT Thái Sơn, TCT Xây dựng Lũng Lô, TCT Xây dựng Trường Sơn, TCT Thành An.

Mặc dù xưa giờ các hoạt động của các TCT quân đội vẫn được hệ thống truyền thông của đảng giấu kín, coi đó là bí mật quốc phòng, nhưng chỉ trong thời gian gần đổ lại đây, tin tức nợ nần của các TCT quân đội cứ lần lượt được đăng lên báo chí với giọng điều hằn học châm biếm. Thí dụ như vào tháng Bảy năm 2018, trang mạng vietnambiz.vn cho đăng bài “Tổng công ty 36 – doanh nghiệp quân đội đấu thầu ‘bách chiến bách thắng‘ làm ăn ra sao” mỉa mai TCT này đấu thầu dự án to như voi nhưng lời thu về thì như con kiến.

Trang mạng Tuổi Trẻ cũng đăng tin TCT Xây dựng Trường Sơn bị đình chỉ các công trình đấu thầu quốc lộ 1. Trang mạng của tờ Lao Động cũng nhảy vào cuộc bêu xấu TCT Xây dựng Lũng Lô vì thiếu nợ thuế lên đến 300 tỉ đồng Việt Nam.

Các tổng công ty của quân đội bị báo chí truyền thông đảng thay nhau tấn công liên tục mà phía bên quân đội vẫn không có cách gì gây áp lực nội bộ để trừng phạt vì do có thế lực đảng đứng sau hổ trợ quá mạnh, ngay cả tờ Quân Đội Nhân Dân cũng không dám lên tiến đính chính hay chống trả lại.

Như vậy, sau lời tuyên bố mạnh miệng của tướng Vịnh, giới chức quân đội từng bước co vòi im lặng chịu đòn. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là giới tướng lãnh bộ Quốc phòng nằm im xếp re phục tùng đảng.

Trong bối cảnh căng thẳng biển Đông ngày một gia tăng và hợp tác quốc phòng giữa cộng sản Việt Nam và Hoa Kỳ ngày một sâu rộng, vai trò của các tướng lãnh quân đội vì vậy, nhờ thời thế bổng trở nên quan trọng hơn, có nhiều quyền hành động hơn so với trước đó.

Điểm mấu chốt của vấn đề là trong mối quan hệ quốc phòng với Hoa Kỳ, phe đảng tịch trở thành kỳ đà cản mũi làm chậm tốc độ hợp tác quốc phòng khiến Hoa Kỳ đi đến những quyết định vận động áp lực hâu trường quyền lực nhăm thúc đẩy phe quân đội có thêm quyền lực ở trung ương.

Phe đảng tịch của Trọng và Phúc muốn đẩy mạnh hợp tác kinh tế với Hoa Kỳ và Đồng Minh để có thêm quyền lợi kinh tế về cho phe nhóm của mình, nhưng lại muốn trì hoãn sự hợp tác quân sự với Hoa Kỳ, một mặt là hy vọng chuyện này sẽ không làm mối quan hệ giữa hai đảng cộng sản Việt Nam Trung Quốc tăng thêm căng thẳng bất hòa, mặt khác, phe đảng tịch vẫn bị ám ảnh đảng sẽ bị khống chế bởi phe quân đội và thế lực quân phiệt đỏ, vốn đang được Hoa Kỳ chiều chuộng.

Tuy nhiên, khó khăn của phe đảng tịch là Trung cộng không ngừng uy hiếp quân sự lên Việt Nam. Chỉ nội có vùng trời Bắc Việt nhỏ bé mà Trung cộng đã tập trung hai sư đoàn Không quân tiêm kích ngay sát biên giới và ba sư đoàn khác ở đảo Hải Nam để đe dọa khống chế cả vùng trời Bắc Việt và biển Đông, chưa kể ba sư đoàn dự bị ở Quãng châu, tất cả được khoanh tròn trong vòng tròn đỏ ở hình sau đây:


Uy hiếp của Trung cộng đối với bầu trời Bắc Việt

Mỗi một sư đoàn không quân của Trung cộng có khoảng 3 phi đoàn, và mỗi phi đoàn có khoảng từ 24 đến 40 mươi phi cơ tiêm kích. Như vậy năm sư đoàn không quân của Trung cộng đe dọa bầu trời Bắc Việt có tổng số tiêm kích cơ lên đến gần hoặc hơn 400 phi cơ. Sự uy hiếp quân sự kinh khiếp của Bắc Kinh chắc chắn phải làm cho phe đảng tịch ở Hà Nội nghẹt thở lo sợ.

Tuy nhiên, nỗ lực quy lụy Bắc Kinh của cộng sản Việt Nam không làm Bắc Kinh rộng lượng dừng tay mà ngược lại, cộng sản Việt Nam càng quy lụy Bắc Kinh bao nhiêu thì Bắc Kinh càng lấn tới mạnh bấy nhiêu. Tình thế căng thẳng tại biển Đông càng lúc càng gia tăng bởi hàng loạt các hoạt động quân sự từ tập trận, đặt hỏa tiễn đến xây lấn đảo của Trung cộng và không có dấu hiệu dừng lại trừ phi Việt Nam và Hoa Kỳ, cùng các nước trong vùng có một đối sách cứng rắn hữu hiệu

Để đối phó với tình huống bị uy hiếp ngày một tăng từ Trung cộng, phe đảng tịch của Trọng đã đồng ý mở cửa các cảng tại miền Nam Việt Nam để đón hàng loạt các tàu chiến của Hoa Kỳ và Đồng Minh cặp bến trong năm nay với hy vọng Trung cộng chùn tay.

Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp tạm thời trước mắt và vẫn không làm Trung cộng do dự khi tiếp tục tăng áp lực uy hiếp của mình lên Việt Nam ở biển Đông.

Với chiều dài bờ biển gần ba ngàn cây số với hàng loạt các mỏ dầu to kếch xù nằm dọc bờ, và nếu lực lượng Không-Hải của Việt Nam vẫn còn quá yếu kém như hiện nay, thì ngày đó, Trung cộng vẫn không nao núng uy hiếp Việt Nam tại biển Đông.

Trung cộng biết rõ áp lực của quốc tế và tàu chiến Hoa Kỳ và Đồng minh ra vào các cảng tại miền Nam Việt Nam tuy mạnh nhưng không thể liên tục kéo dài. Một sự thật phủ phàng cho phe đảng tịch là chỉ khi nào lực lượng Không Hải của Việt Nam thật sự được hiện đại hóa toàn diện thì khi đó, Trung cộng mới phải do dự khi quyết định gia tăng uy hiếp quân sự tại biển Đông lên Việt Nam. Mọi giải pháp còn lại chỉ là vá víu tạm bợ.

Cho đến nay, mặc dù sự hiện diện của các tàu chiến của Hoa Kỳ và Đồng Minh nhiều hơn và thường xuyên hơn tại miền Nam Việt Nam, Trung cộng vẫn tiếp tục gia cố và hiện diện quân đội đông hơn tại các đảo tạm chiếm trái phép của Việt nam tại hai quần đảo Hoàng-Trường Sa.

Sự hiện đại hóa toàn diện về Không-Hải cho Việt Nam đang rất cấp bách và đòi hỏi phe đảng tịch phải thúc đẩy mức hợp tác quốc phòng với Hoa Kỳ thêm sâu rộng hơn nữa. Nhưng điều này lại sẽ dẫn đến vai trò của các vị tướng lãnh trong cán cân quyền lực ở trung ương tăng vọt. Phe đảng tịch của Trọng lo sợ đây chính là mối nguy chính trị cho đảng. Khi các tướng lãnh có quá nhiều quyền lực, thì tổng bí thư đảng hay chủ tịch nước bị quân đổ lật đổ hay khống chế là điều có thể xẩy ra.

Ngoài ra, nếu muốn hiện đại hóa, hàng loạt các sĩ quan trong các đơn vị liên quan đến binh chủng Không Hải cần phải được đào tạo ngay từ đầu tại Hoa Kỳ. Có như vậy, các loại vũ khí Không Hải hiện đại của Hoa Kỳ mới có thể bàn giao được cho Việt Nam sử dụng. Sự đào tạo này sẽ dẫn đến sự kiểm soát của đảng về mặt ý thức hệ đối với các sĩ quan bị sút giảm nghiêm trọng. Điều này cũng khiến quan niệm mà đảng áp đặt lên quân đội, buộc quân đội phải trung thành với đảng không còn nền tảng để tồn tại.

Phe đảng tịch đang ngần ngại nhìn thấy một đội ngũ sĩ quan Việt Nam trẻ đào tạo bởi Hoa Kỳ sẽ có tư tưởng phóng khoáng hơn để rồi coi việc trung thành với đảng là phi lý mà chỉ trung thành với quốc gia mà thôi.

Do đó, để trì hoãn sự hợp tác quân sự giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, phe đảng tịch của Trọng lấy cớ là chuyển đổi toàn diện hệ thống vũ khí dành cho lực lượng Không-Hải của mình từ vũ khí cũ kỹ của Nga mà Việt Nam có từ thời chiến tranh Lạnh sang hoàn toàn vũ khí hiện đại của Hoa Kỳ quá tốn kém, từ chi phí bảo trì đến chi phí đào tạo, nên đã yêu cầu Hoa Kỳ cho phép cộng sản Việt Nam tiếp tục tân trang các vũ khí của Nga bằng thiết bị mới từ Nga mà không bị Hoa Kỳ chế tài. Hoa Kỳ đồng ý việc này nhưng điều này lại khiến lực lượng Không Hải của Việt Nam lọt vào cái vòng lẫn quẩn lạc hậu yếu kém không thể thoát ra được.

Tất cả những vũ khí của Nga sản xuất, Trung cộng điều có với số lượng nhiều hơn cả chục đến trăm lần. Vì vậy, ưu thế của sự tân trang theo đường lối này không giúp lực lượng Không-Hải Việt Nam có được lợi thế khi đương đầu với sức mạnh Không Hải của Trung cộng đông hơn mình trên cả trăm lần.

Chỉ khi nào lực lượng Không Hải Việt Nam sử dụng vũ khí của Hoa Kỳ mới làm cho Trung cộng lo lắng vì trình độ kỹ thuật của các loại vũ khí của Hoa Kỳ trong hai binh chủng Không Hải cao hơn hẳn các loại vũ khí của Nga, khiến khả năng tiêu diệt đối phương của các loại vũ khí của Hoa Kỳ trước các loại vũ khí của Nga trong lực lượng Không Hải là tuyệt đối.

Hơn nữa, Hoa Kỳ là quốc gia duy nhất trên giới luôn luôn can thiệp bằng vũ lực để bảo vệ các quốc gia nào mua vũ khí của mình cho vấn đề tự vệ.

Đó là lý do chính yếu tại sao nước Ả- Rập Saudi và nhiều quốc gia nhỏ khác, kể cả Đài Loan bỏ ra hàng tỷ Mỹ kim mua vũ khí của Hoa Kỳ không ngần ngại. Nga không có tiền lệ này trừ ở Syria. Khi thấy lực lượng Không Hải của Việt Nam sử dụng vũ khí của Hoa Kỳ ở mọi mặt thì Trung cộng phải do dự vì ngoài khả năng tiêu diệt kinh khiếp của các loại vũ khí của Hoa Kỳ, Trung cộng biết rõ Việt Nam sẽ nằm trong tiêu chuẩn được Hoa Kỳ bảo vệ bằng vũ lực vì mua vũ khí của Hoa Kỳ một cách toàn diện cho vấn đề tự vệ.

Cũng xin lưu ý là tiêu chuẩn trên chỉ có sau khi Việt Nam Cộng Hòa thất thủ. Việt Nam Cộng Hòa cũng sử dụng vũ khí của Hoa Kỳ một cách toàn diện nhưng lại không được Hoa Kỳ bảo vệ vào năm 1975 vì vào thời điểm đó, chưa có tiêu chuẩn này.

Nhận thấy sự sai lầm của mình khi phản bội Việt Nam Cộng Hòa, vào tháng Tư năm 1979, Quốc Hội Hoa Kỳ đưa ra luật Taiwan Relations Act, ngầm ý biến Đài Loan thành bạn hàng vũ khí của Hoa Kỳ và từ đó, Hoa Kỳ sẽ có bỗn phận bảo vệ quốc gia nhỏ bé này trước mọi đe dọa của Trung cộng.

Cũng từ đó, các nước nhỏ khác vốn thường bị đe dọa liên tục mua vũ khí của Hoa Kỳ để được hưởng tiêu chuẩn bảo vệ giống như của Đài Loan, dù rằng không có luật đưa ra tiêu chuẩn này cho những quốc gia khác. Đây là một tiêu chuẩn bất thành văn nhưng vô cùng mạnh trong quan niệm hành xử ngoại giao của Quốc hội và Chính phủ Hoa Kỳ. Kuwait, Jordan được Hoa Kỳ bảo vệ khỏi sự thôn tính của Irag không phải vì hai nước này có quá nhiều dầu như nhiều người lầm tưởng mà hai quốc gia này cùng với Saudi là bạn hàng thường trực mua vũ khí của Hoa Kỳ cho mục tiêu tự vệ.

Các tướng lãnh biết rõ phe đảng tịch của Trọng đang tìm mọi cách để khống chế mình, hạn chế mối quan hệ quân đội Việt Mỹ một cách tối đa và họ cũng thật sự muốn xếp vó co vòi thuận thảo cho an phận; nhưng vì tình hình biển Đông cứ mỗi lúc mỗi căng thẳng nên áp lực và nhu cầu hợp tác quân sự với Hoa Kỳ của quân đội ngày một thúc bách. Các tướng lãnh không còn cách nào khác là phải áp lực ngược trở lại buộc phe đảng tịch mở rộng cửa hợp tác quân sự với Hoa Kỳ.

Mối bất hòa giữa đảng và quân đội còn được Hoa Kỳ “đổ thêm dầu vào lửa” khi Hoa Kỳ cứ tiếp tục thúc hối phe đảng tịch của Trọng đẩy mạnh hợp tác quốc phòng. Số lần viếng thăm ở cấp bộ trưởng (quốc phòng) của Hoa Kỳ sang thăm Việt Nam tăng vọt trong những năm gần đây so với phía cộng sản Việt Nam sang thăm Hoa Kỳ. Áp lực hợp tác quân sự từ Hoa Kỳ quá lớn khiến giới tướng lãnh không thể bỏ qua mà buộc phải nương theo. Đây là cơ hội để giới tướng lãnh trong bộ Quốc phòng đòi hỏi thêm nhiều quyền lực, nhiều ghế ở trung ương mà phe đảng tịch của Trọng đang tìm cách hạn chế.

Trong tình huống như vậy, phe đảng tịch của Trọng mở cửa các cảng để các chiến hạm Hoa Kỳ và Đồng Minh cặp bến tại miền Nam cũng là cách để giải tỏa bớt áp lực hợp tác quân sự từ cả phía Hoa Kỳ và phái quân đội.

Tuy nhiên, áp lực hợp tác quân sự Việt Mỹ không vì thế mà dừng lại hay giảm bớt. Áp lực này như cơn lốc cứ mỗi ngày một mạnh lên cho đến khi nào sự hợp tác quân sự Việt Mỹ trở nên toàn diện từ cả hình lẫn chất. Nghĩa là, chỉ khi nào vũ khí Hoa Kỳ được bán sang Việt Nam để hiện đại hóa lực lượng Không Hải một cách ồ ạt công khai, Không Hải và hỏa tiễn Hoa Kỳ được hiện diện thường trực tại Việt Nam thì khi đó, áp lực mở cửa hợp tác quân sự Việt Mỹ mới tạm gọi là không còn từ các phía.

Cho nên, sự miễn cưỡng chống chế của phe đảng tịch trong việc hợp tác quân sự với Hoa Kỳ càng kéo dài lâu bao nhiêu thì sự an nguy về chính trị đối với đảng càng lớn bấy nhiêu, vì sự miễn cưỡng này là động lực để các tướng lãnh bên quốc phòng đồng tâm tìm cách thanh trừng phe đảng tịch.

Nguyễn Trọng Dân 
Theo ĐCVO 

Share

scroll back to top
 

TIN MỚI NHẤT