DIỄN ĐÀN NGƯỜI DÂN VIỆT NAM

XÂY DỰNG CÔNG BẰNG THỊNH VƯỢNG NHÂN BẢN

Hồi Ký: Cuộc Chiến Chưa Tàn (12)_Trần Nhật Kịm

E-mail Print

                                                                    Image result for CUỘC  CHIẾN  CHƯA  TÀN

13.

An tâm cải tạo

Image result for Trại Thanh-cẩm

(Trại Thanh-cẩm)

             Vào sâu địa phận Thanh-Hóa, tới ngã ba, xe chở anh em biệt-kích rẽ bên trái đường vào trại Lam-sơn, còn xe Kim chạy thẳng.  Con đường nhỏ hẹp len lỏi giữa đám đồng cỏ.  Mọi người xuống xe qua phà tại huyện Cẩm-thủy. Tới 3 giờ chiều mới tới khu trại, nhìn từ xa như một ốc đảo

dựa vào chân núi cao, sương khói phủ mờ ngọn núi.                                                                        

            Anh đã tới trại Thanh-Cẩm thuộc huyện cẩm-Thủy, nằm sát bên bờ sông Mã.  Phía bên kia là Bái-thượng, rồi tới ranh giới hai nước Việt-Lào.               

            Kim và các bạn theo cán bộ hướng dẫn vào trại.  Anh không nhìn thấy mái nhà phía trong vì vòng tường xây quá cao.  Giòng sông Mã nước triều đang lên khiến mặt sông thật rộng, nước phù sa đục ngầu.  Kể từ ngày rời miền Nam, bây giờ anh mới được nhìn lại giòng sông.  Kim cảm thấy dễ chịu vì hình ảnh lạ vừa thay đổi.  Biết bao ngày tháng qua, anh chỉ nhìn thấy rừng xanh núi biếc.  Anh vừa thoát khỏi vùng núi non hiểm trở, tới đây sông nước tươi mát khí hậu ấm dịu, nỗi ưu tư như vơi đi phần nào.

            Qua khỏi cánh cổng lim dầy có trạm gác hai bên, một hội trường lớn ở giữa lui vào gần cuối sân trại.  Sân đất thật rộng.  Hai dẫy nhà nằm đối diện hai bên sân, cách nhau bởi những bức tường ngăn khá cao.

            Bốn mươi tám người Quyết-tiến lên căn phòng ở cuối dẫy bên trái.  Theo triền dốc căn nhà này cao hơn những căn phía  dưới.  Căn nhà mang số 5.  Tính theo chiều ngược vòng quay kim đồng hồ.  Từ cổng trại về bên phải, khu nhà bếp nằm khuất phía trong rồi tới căn nhà ngói nhỏ dùng làm Trạm xá và ban Văn Hóa.  Căn phòng giam tập thể đầu tiên mang số 1, cuối dẫy bên phải là căn số 4.  Dẫy bên trái, căn số 5 ở trên cao, và căn sát cổng mang số 8.

            Từ cửa phòng 5 nhìn xuống sân trại, hội trường như chiếc nhà Rông của người miền núi Cao-nguyên Trung phần, mái nhọn cao vút.  Cách cổng một con đường đất, giòng sông Mã nằm sâu phía dưới thềm dốc bờ sông.  Thủy triều đang lên nước chẩy xiết, mặt nước đỏ mênh mông lấn vào sát chân làng phía bên kia bờ sông.

            Nhìn ngược lên phía trên, qua mấy bậc tam cấp là khu kỷ luật.  Một căn nhà rộng mái lợp tôn, tường phủ một mầu đen thẫm, trông thật nặng nề ghê sợ.  Bức tường bao quanh che mất lối cửa ra vào.  Cánh cửa lim dầy đã ngả mầu đen.  Một hành lang hẹp ở giữa chia căn nhà làm hai dẫy.  Không có lấy một ô cửa sổ cho ánh sáng lọt vào. 

            Kim nghe Mười kể lại, anh đã vượt thoát khỏi khu kỷ luật này, bị bắt lại trở thành loại người,theo cán bộ nói, bất trị cứng đầu, không chấp hành kỷ luật trại.  Trại bảo anh Mười có tư tưởng chống đối, nên đưa anh và một số bạn lên trại Quyết-Tiến.  Gặp bọn Kim rồi ngược về đây, thành con số 48 người trở về từ trại trừng giới Cổng Trời.

            Kế phòng kỷ luật cũ là khu kỷ luật mới vừa hoàn tất, vòng tường xây cao trên giăng nhiều hàng kẽm gai, tựa vào vách núi dựng đứng.

            Sau khi mọi người vào phòng, cửa cổng đã khóa kín phía ngoài.  Phòng 5 cũng giống như những căn dưới kia, cùng một hình thức như nhà giam trại Nam-Hà và Quyết-tiến.  Căn nhà ngủ nằm giữa khu đất, phía trước là sân chơi, những ô bàn ghế xây chen cạnh các khóm hoa cúc làm khu nhà đỡ trơ trọi.  Sát cổng ra vào, một căn nhà nhỏ dùng làm nhà ăn chỉ kê vừa một chiếc bàn dài.

            Kim ra phía sau nhà ngủ, đứng trên bờ đất cao nhìn qua vòng tường trại, con đường đất nhỏ len lỏi giữa khu vườn trồng sắn, vượt qua một bên ngọn núi đã xẻ bứt ở giữa làm đường đi.  Trời đất mênh mông.  Anh không thể nhìn thấy những gì ở xa hơn, tầm nhìn bị thu hẹp vì ngọn núi chắn phía trước.

            Bốn mươi tám người nằm một nửa của căn phòng có bức tường ngăn đôi.  Anh em chia nhau chỗ nằm, phòng quá rộng đối với nhóm người các anh.  Lần đầu tiên trong cuộc đời ở tù, Kim được một chỗ nằm rộng rãi.  Anh không phải "chen vai thích cánh" gò bó như thời gian trước đây. 

            Sau hành trình hai ngày một đêm, anh thấy mệt mỏi, thèm một chỗ ngả lưng.  Kim trải chiếu sàn nằm trên sát bên cửa sổ.  Anh vẫn thích nhìn bầu trời về đêm, những lúc trăng sao vằng vặc, để có giây phút hướng về gia đình với những kỷ niệm khó quên, với mong ước trở về.  Kế bên là anh Tiếp rồi đến anh Phước Hải quân.

            Bữa cơm chiều có người gánh lên tận phòng.  Theo đúng thủ tục nhập trại, một bữa cơm trắng với canh rau muống đãi ngộ cho người mới tới.  Dù sao cũng là bữa ăn ngon miệng, vì đã lâu không nhìn thấy hạt cơm.

            Sáng hôm sau cửa phòng mở hơi trễ, cánh cửa cổng ra sân trại đã khóa phía ngoài.  Các anh được nghỉ một ngày dưỡng sức trước khi đi lao động trở lại.  Kim vẫn thích có những lúc như thế này, anh được nhìn khung cảnh mới, chưa rõ tốt hay xấu, vì nhà tù cộng-sản nào cũng giống nhau.  Nhưng anh được nghỉ ngơi nhàn hạ, để tinh thần bớt căng thẳng vì cảnh cũ quen thuộc.

            Hôm nay mở cửa trễ nên không tập thể dục, một việc làm bắt buộc của trại cải tạo.  Nói là vận động cho cơ thể khoẻ mạnh, cường tráng để lao động tốt, nhưng thực ra cường tráng làm sao được khi bữa ăn chiều hôm trước đã mất hút từ tối hôm qua.  Cả một đêm bụng đói lấy gì làm cho khỏe.

            Chưa tới giờ cơm trưa cửa cổng lại mở, hai cán bộ vào gọi tên một số Linh-mục.  Lại khăn gói rời phòng, các vị được dẫn lên khu kiên giam kỷ luật.  Người cộng-sản vốn cẩn thận, giết lầm chứ không bỏ sót, vì tôn giáo vốn là khắc tinh.  Căn phòng trở lên trống trải với số người còn lại.  Mấy ngày sau lại có một số anh em lên kỷ luật, những người còn lại đều sẵn sàng chờ gọi tên mình.

            Sau ít ngày nghỉ ngơi, cũng như hưởng mùi vị dằn mặt của ban gíam thị trại, nhóm Quyết-tiến được thành lập đội, mang tên đội 16.  Cán bộ quản giáo là người lầm lì ít nói, có tiếng kỷ luật nhất trại. 

            Trại đã có một đội xây dựng, nên khi đội 16 được gọi là đội xây dựng, anh em trong đội cười nói mình là đội xây dựng nhẹ, vì chẳng có chút dụng cụ gì để mang vác.  Cả đội hơn ba chục người vỏn vẹn có một đục, một tràng, một cưa tay nhỏ, vài cái cuốc và xẻng.  Anh em trong trại nhìn đội 16 nói "đội gì mà chỉ có mấy ngoe, người nào người nấy tơi tả như lá mùa thu, như đàn gà gặp ngày giông bão." 

            Ðội 16 có thêm tên mới, anh em trong trại thường gọi là "đại đội trừng giới," danh xưng nghe khá đặc biệt.  Kim cảm thấy đội mình như bị cô lập.  Không phải anh em trong trại sợ hãi điều gì, vì cũng chung cảnh tù đầy, nhưng họ không muốn bị cặp mắt cán bộ trại phát giác có sự liên hệ, mà hình phạt kỷ luật có thể đến với họ.  Mặt khác, cán bộ trại kiểm soát chặt chẽ sự liên hệ giữa anh em trong trại với nhóm Quyết-tiến, như ngăn ngừa lây bệnh, mà tính chống cộng sản là căn bệnh dễ lây khó trị.

            Sau những ngày đầu làm vệ-sinh, phát quang xung quanh trại, đội 16 được giao thực hiện một căn nhà tranh 5 dan trên khu đất bên kia đường trước cổng trại.

            Bây giờ đang ở vào những ngày cuối mùa thu miền Bắc, những cơn mưa rào thoáng đến thật nhanh.  Hơi sương bao phủ mặt sông về buổi sáng.  Trời chuyển lạnh, từng cơn gió núi thổi qua tạt những hạt mưa lạnh buốt.

            Công tác được phân chia, chỉ có một trở ngại mặc dù là kèo tre nhưng lấy gì đục lỗ con sỏ, vì chiếc đục duy nhất đang dùng để hoàn tất các cây cột nhà.  Anh em trong đội phải dùng các cây sắt tròn nung lủa đỏ đục các lỗ con xỏ.  Công việc khá tức cười, con người lại trở về thời đại phương tiện còn eo hẹp.

            Sau vài tuần lễ căn nhà hoàn tất, tác phẩm đầu tay của đội trông chẳng giống ai.  Vẫn mái rạ, tường đắp đất trộn rơm, cửa là tấm phên tre, trông thật nghèo nàn. 

            Kim gặp lại một số tù hình sự trại Quyết-tiến về đây, họ cho hay sau khi nhóm anh rời trại Cổng Trời được ít ngày, quân đội Trung Hoa tràn qua biên giới, phá trại Quyết-tiến và các vùng phụ cận.  Một số hình sự trốn thoát, còn một số bị bắt lại và di chuyển về trại này.

            Bây giờ mới tháng mười, thời tiết trở lên lạnh hơn trước.  Ðám hình sự ở các phòng 6,7 và 8 chuyển ra trại ngoài, nhường chỗ cho anh em quân nhân cải tạo ở trại Hoàng-liên sơn chuyển tới.

            Nửa căn nhà còn trống của phòng 5 dành cho đội 15.   Các anh mới tới cho hay khi ra Bắc họ di chuyển bằng xe lửa, nên khi tới ga Hàng Cỏ tầu ngừng mới hay có người đã bị chết ngộp, vì toa xe chật chội, nhất là tù bị nhốt trong các toa xe chở gia súc kín mít.

            Ðội 16 chỉ còn hơn 30 người, được giao công tác làm sạch khu kỷ luật vừa hoàn tất.  Mặt sân rộng còn ngổn ngang gạch đá, cỏ mọc khắp nơi.  Từ chỗ này nhìn ra xung quanh chỉ thấy vòng tường cao ngất, trên giăng nhiều hàng kẽm gai.  Ðèn điện thắp sáng trên các đầu tường.

            Dù là khu vừa xây xong, mùi vôi còn nồng nặc mà các phòng giam đã không còn chỗ trống.  Phương tiện vệ sinh tại các phòng này thiếu thốn, vì vậy đời sống tù giam kỷ luật thật tồi tệ.

            Ðến giờ giải lao, anh em ngồi tại chỗ nghỉ tay, quây quần nói chuyện, có bạn đề nghị Kim làm một chút văn nghệ cho vui, anh cao hứng hỏi các bạn:

            -"Các anh muốn làm gì bây giờ?"

            Anh Tiếp góp ý:

            -"Anh hãy hát lại mấy bản nhạc đã làm trước kia."

            Kim nhớ khi tới Quyết-Tiến, hai người kể lại những gì đã xẩy ra.  Nhiều lúc sự sống như chỉ mành treo chuông, chẳng còn gì thuộc về mình, kể cả tình yêu thương với những toan tính tương lai, và những chán chường hiện tại nhiều lúc như thúc dục anh vùng lên bất kể hiểm nguy.  Kim cười trả lời anh Tiếp:

            -"Có lẽ trong hoàn cảnh này và ngay lúc này, sau lưng chúng ta có một số anh em đang bị cùm xích đọa đầy trong phòng tối.  Tôi muốn diễn tả tâm tư của tôi, và có lẽ của cả chúng ta, một ngày nào đó không sớm thì muộn, chúng ta sẽ lần lượt bước vào chốn này, chung hưởng nỗi cay đắng với các bạn trong kia."

            Dù không phải là ca sĩ, nhưng hát hay vẫn không bằng hay hát, nhất là lúc con người không nghĩ tới ngày mai xa xôi của mình, vì hiện tại sự sống quá bấp bênh.  Kim cao hứng đứng trên ụ đất cao, tay chống cán cuốc diễn tả bản "Cachot – Xà Lim", bản nhạc anh đặt lời, theo âm hưởng của bản “Paloma”, từ ngày mới vào tù.

            Sau những hành động hận thù, những vòng xích xiết chặt tay chân đến trầy da chẩy máu, thân xác mệt mỏi vì nhiều đêm mất ngủ sau những buổi lấy cung bất kể ngày đêm.  Kim đã diễn tả tâm tư của người tù dưới chế độ cộng-sản vốn thê lương ngắn ngủi, dù thức hay ngủ cũng chỉ là những giấc mộng phù du.  Rồi những lúc ngọn lửa căm hờn nung đốt tâm can những muốn đạp đổ bức tường ngăn, bứt tung xiềng xích vượt thoát ra ngoài.  Nhưng chính những giây phút thất vọng hay căm hờn đó anh đã có những ý nhạc, mà sau này nhớ lại, anh tự hiểu có thể đó là lối thoát cho tâm tư uất nghẹn của anh, trong một hoàn cảnh dễ làm con người điên loạn. 

            Từ trong phòng tối của trại “Băng Ky”, anh đã hát bản nhạc này để góp vui với các bạn tù vào ngày mồng một Tết.  Anh chẳng biết trong đó có ai, đang bị cùm xích đọa đầy trong các căn phòng tối phía trong.  Khi gặp mặt anh mới biết có bác Nam Kinh, có Nguyễn-Tiến-Ðạt, có Hoà . . . mà sau này dắt díu nhau ra Bắc.

            Khi Kim dứt tiếng ca, có tiếng vọng từ trong phòng kỷ luật như một lời hưởng ứng, như chứng nhận lời ca đã diễn tả đúng hoàn cảnh mà các bạn đang chịu đựng.

            Anh Tiếp cười vui vỗ tay, như quên hẳn phía sau mình là khu kỷ luật thuộc vùng đất nổi tiếng Lý-bá-Sơ.  Mái tóc điểm muối nhiều hơn tiêu thể hiện quãng thời gian khổ ải đã trải qua.  Khuôn mặt xương xương pha mầu trắng xanh xao, thêm đôi kính cận trông thật hiền hoà thân ái, thoáng hiện nét vui.  Như tâm tư được giãi bầy, được cởi mở mà trong giây phút đã quên đi hiện tại chua cay của kiếp người bèo bọt.  Anh Tiếp pha trò:

            -"Mẹ kiếp, hát được quá đi chứ, đúng là ca sĩ thứ thiệt ngoài đời.  Nếu có chiếc "kèn sắc" phụ họa thì hay biết mấy.  Nhưng không hiểu sao với nhạc điệu Tango trang trọng, vui tươi mà lời ca anh đặt lại đau thương như con tim đang rỉ máu.  Và giọng ca của anh lại tan nát thê lương, diễn tả đúng kiếp sống không ngày mai của chúng mình.  Phải!  Chúng mình đang đi tới con đường cùng.  Chua xót thật…"

            Kim cũng không hiểu tại sao anh đặt lời nhạc bản từ lời ca đến âm hưởng thật vui tươi, trong sáng nhẹ nhàng bằng lời Việt mang nét uất hận căm hờn.  Có phải nó đã diễn tả đúng thực trạng đời sống của anh trong căn xà lim tăm tối với chân cùm tay xích.  Phải, chính trong giây phút đó lòng anh tan nát trước kiếp người mong manh.                  Rời khu kỷ luật, đội làm vệ sinh xung quanh khu hội trường.  Nhân số ít ỏi, người ngợm vẫn phờ phạc tả tơi.  Trong giờ lao động, một cán bộ trẻ đi qua thấy Khuân hắn gọi anh lại.  Anh em không hiểu có chuyện gì làm gai mắt hắn nên dừng tay cuốc đứng nhìn.  Khuân bỏ cuốc đi lại phía hắn.  Hắn nói lớn:

            -"Sao anh lại đeo kính khi lao động?"

            Khuân trả lời hắn:

            -"Tôi cận thị nên phải đeo kính.  Tôi đã đi qua bao nhiêu trại trước khi tới đây, chưa có cán bộ nào thắc mắc  tôi đeo kính khi lao động."

            Bị chạm tự ái trước câu trả lời, hắn trợn trừng đôi mắt.  Sự tức giận làm mặt hắn xạm lại.  Hắn những tưởng có uy quyền buộc kẻ khác phải tuân phục mhư đã từng làm ở đây.  Mọi người đứng nhìn chờ xem hành động của hắn.  Có tiếng nói trong đám anh em:  "Nó ngu thật, cận mà không cho đeo kính khác gì mù."

            Hắn nghe rõ câu nói, như lửa đổ thêm dầu, quắc mắt hướng về phía đám đông như tìm kiếm người vừa buông lời xỉ nhục.  Hắn quay lại Khuân nói như hét: "Ðưa kính đây."  Khuân tháo kính đưa cho hắn.  Hắn cầm kính ném xuống đất, đè gót giầy lên rồi bỏ đi.

            Khuân như kẻ mù, mắt cận nặng nên anh không nhìn rõ hình ảnh phía trước, nhất là sau thời gian dài tù đầy, cùm xích trong phòng tối, cái đói cái khổ đã làm mắt anh ngày càng tối tăm hơn.  Chắc anh chưa biết số phận cặp mắt kính nằm dưới đất, các bạn giúp anh nhặt kính.  Một gọng đã gẫy lìa, chiếc còn lại lung lay như cánh gà bẻ ngược, một bên mắt kính rạn nứt. 

            Mọi người đều tức giận, ngọn lửa căm thù tưởng là nguội lạnh sau một năm đầy ải ở trại Cổng Trời, bỗng chợt bùng cháy, nung đốt tâm can.                           

            Sau vụ của Khuân, không khí buổi sinh hoạt trong phòng đã thay đổi, không yên lặng như trước.  Như tức nước vỡ bờ, sôi động với tư tưởng chống đối, anh em cùng chỉ trích những hành động thiếu nhân đạo của đám cán bộ trại.

            Trong một buổi sinh hoạt thường lệ tại phòng, anh Chín Khương đưa ra lời phản đối hành động của cán bộ đối với anh em đội 16. 

            Anh Chín bị bắt ngay sau ngày miền Nam bị chiếm đoạt.  Anh đã trải qua nhiều trại cải tạo ở miền Nam rồi ra Bắc.  Tới trại Thanh-cẩm này, anh đã mục kích những hành-động tàn bạo của đám cán bộ.  Anh đưa lời phản đối, hy vọng có sửa sai.  Nhưng ngược lại, anh bị trại ghi nhận có tư tưởng chống lại Ðảng và Nhà nước. 

            Anh và một số bạn vào kỷ luật rồi cả đám 8 người trong đó có các anh Nguyễn-vạn-Thọ, Trịnh-Tiếu, Phạm-dương-Ðạt. Trang-minh-Hải, Nguyễn-văn-Mười, Nguyễn-Xuân, Trần-trung-Chi kéo nhau lên Quyết-Tiến, Hà-giang.  Gặp nhóm Kim, những tưởng một phen bỏ xác tại vùng rừng thiêng nước độc, quanh năm sương phủ.  Chẳng ngờ quân đội Trung-hoa đánh phá miền biên giới, anh em lại ngược về đây.  Không hiểu có phải là mệnh số mà oan gia gặp lại, anh Chín trở về nơi chẳng mấy hoan hỷ đón tiếp.  Trong buổi họp, anh quay bảo anh thư ký ghi biên bản:

            -"Xin anh ghi rõ và đầy đủ lời phát biểu của tôi."

            Mọi người chưa biết anh sẽ nói gì, nhưng nét mặt anh đầy vẻ bất bình, như uất hận đang trào dâng.  Anh ngừng lại vài giây, rồi nói tiếp:

            "Từ sau ngày miền Nam bị xâm chiếm và trong suốt thời gian đi tù tại các trại cải tạo từ Nam ra Bắc, tôi xác định một điều, chế độ cộng-sản là chế độ vô nhân đạo, tước bỏ quyền sống của con người.  Tôi không bao giờ chấp nhận và không thể sống chung với chế độ bạo tàn này."

            Kim thấy nét mặt của anh em trong đội một phút ngỡ ngàng.  Anh thư ký ngừng bút viết, đưa mắt nhìn anh Chín như thầm hỏi anh có ý định thay đổi lời vừa phát biểu không.  Anh chín như nhìn rõ tâm ý người bạn đang lo lắng cho an nguy của mình.  Nhưng anh vẫn giữ nét mặt trang nghiêm, như đã nghĩ kỹ trước khi nói, như đã chọn lựa cho mình con đường phải đi.  Không thể thay đổi, vì đã nhận thức bằng kinh nghiệm cá nhân, và bằng mắt thấy của cả hàng nhiều triệu người miền Nam cũng như miền Bắc.  Anh Chín quay qua anh thư ký nhắc lại:

            -"Xin anh ghi lời tôi phát biểu đầy đủ."

            Anh thư ký vẫn chưa ghi vào biên bản lời phát biểu của anh Chín, quay nhìn anh em trong phòng như dò hỏi,  để biết có lời nào can ngăn.  Cả phòng vẫn yên lặng, hàng trăm con mắt nhìn nhau.

            Rồi bất chợt phút giây căng thẳng, yên lặng ngắn ngủi vụt biến mất, trả lại không khí vui vẻ hân hoan cho mọi người.  Ðã lâu lắm không nghe thấy một câu nói tương tự, như một luồng gió mát trong mùa hè oi bức.

            Anh thư ký nhìn các bạn mỉm cười.  Tập thể "đại đội trừng giới" trở về từ Cổng Trời đã được gạn lọc, sàng xẩy qua bao nhiêu thử thách, 48 người vẫn chỉ là một.  Anh  nhận ra một sự thật là tập thể này không chấp nhận chế độ cộng-sản dù ở bất cứ tình huống nào.  Vẫn trước sau như một.

            Những hình ảnh dã man của cán bộ cộng sản đối với tù nhân cải tạo từ Nam-Hà đến Quyết-tiến rồi ở đây Thanh-cẩm, vẫn chỉ là chính sách chung.  Như cảnh một cán bộ đánh gục tù nhân trước mặt mọi người, và còn nhiều nữa.  Ðã chứng tỏ một chính sách giáo dục bằng cực hình, nói lên tính vô nhân đạo, coi mạng sống con người không có một chút gía trị nào.

            Buổi họp vẫn sôi động như thác lũ cuốn trôi, chìm đắm trong uất hận, rồi đến Ninh Vệ Vũ dơ tay xin phát biểu.  Tiếng ồn ào đột nhiên biến mất, mọi người im lặng chờ nghe.  Vũ nói:

            -"Tôi quyết tâm…"

            Vũ ngừng lại, mọi người nhìn về phía anh chờ đợi một câu nói.  Kim nhìn sang Vũ, nét mặt anh trang nghiêm như đang đè nén tâm tư sôi động những uất hận căm hờn.  Giọng anh bỗng đanh lại:

            "…thà chết không chấp nhận chế độ cộng-sản.  Một chế độ đã hủy hoại quyền tự do con người.  Ðã đưa dân tộc này tới chỗ nghèo đói và chậm tiến."

            Một câu nói ngắn gọn, đơn giản nhưng thật sắt đá.  Mặc dầu là câu nói được nhắc lại nhiều lần từ Nam ra Bắc, nhưng mỗi lần nói lên mọi người có cảm nghĩ là vẫn chưa diễn tả đủ thực chất của chế độ cộng sản.

            Kim nhìn Vũ bắt gặp một nụ cười. Anh vẫn như ngày nào, hồi còn ở trại Phan-đăng-lưu, Sài-gon.  Liên miên đổi phòng vì tư tưởng chống cộng.  Dáng người nhỏ nhắn có vẻ nhà giáo hơn là một quân nhân ở một đơn vị có nhiều chiến tích.  Tính tình hiền hoà, ít nói và rất tốt bụng.

            Ra vào phòng kỷ luật như cơm bữa, vẫn một lòng cương quyết không khuất phục trước bạo lực.  Anh đã hưởng hết các kiểu còng, từ xích tay đến cùm chân trong phòng tối, đến xích thành xâu cả chục người trong phòng 7 khu A.  Anh vẫn vậy, vẫn kiên trì chịu đựng chẳng ngã lòng, vẫn sáng suốt và giữ lòng trong sạch.

            Kim nhìn qua anh Chín, nét mặt hai người thật cương quyết.  Họ hiểu hậu qủa của lời vừa phát biểu, nhưng lòng căm hờn vượt lên quá độ đã coi thường hiểm nguy.  Kim cảm phục họ, những người bạn cùng chung một chiếc thuyền, có chung bầu tâm huyết.

            Không khí buổi họp thật sôi động.  Những lời phát biểu được ghi đầy đủ vào biên bản nộp ban giám thị trại.  Không hiểu đám cán bộ trại nghĩ gì về tập thể này.  Những con "cọp xám của trại Nam-Hà" vẫn khó trị, những "đầu gấu" của trại Quyết-Tiến vẫn bướng bỉnh, mà sự yên lặng trong giai đoạn vừa qua lầm tưởng là đã bị khuất phục, nhượng bộ một chế độ khắc nghiệt đi ngược lại ước vọng của dân tộc.

            Nhiều lúc anh em trao đổi, với ý nghĩ chế độ chỉ là một danh xưng do con người đặt ra, ít nhiều phải đạt mục đích phục vụ cho quyền sống căn bản của con người.  Giúp con người tận hưởng một đời sống có ý nghĩa trong cuộc đời có một lần.  Nhưng không hiểu sao, cũng là con người mà vì theo chế độ cộng-sản, đã đi ngược lại nguyện vọng của người dân.  Và tệ hại hơn nữa, thay vì đưa dân tộc này đi lên, họ lại giết hại người đồng loại, như những hành động đẫm máu trong thời gian vừa qua.  Họ tự cho mình có chính nghĩa, xử dụng bạo lực hủy diệt những người bất đồng chính kiến.

            Mấy ngày sau đó vẫn yên lặng.  Ðội 16 lãnh công tác làm vệ sinh trong khuôn viên trại.  Anh Chín Khương đi "làm việc."  Mọi người hiểu biện pháp kỷ luật của trại đã tới.  Họ đâu có thể chấp nhận một sự chống đối ra mặt, nhất là ở giai đoạn trại đang ổn định, phải dập tắt ngọn lửa chống đối ngày một ảnh hưởng tới phòng khác.  Họ đang cần những "vật tế thần" để đàn áp, dằn mặt những người còn lại.  Một hành động đến hơi chậm nhưng tránh được phần nào hỗn loạn có thể xẩy ra khi không khí chống đối còn sôi động.

            Khi đội lao động về, chỗ nằm của anh Chín trống trơn.  Anh đã ra khỏi phòng, cũng không có mặt ở khu kỷ luật hay kiên giam.  Không ai hiểu anh đi đâu.  Sau này anh em hỏi cán bộ mới hay anh Chín Khương được chuyển về Bộ, để giúp tài liệu cho ban viết sử về đời sống những cán bộ cao cấp bị giam ở Côn Sơn khi anh Chín còn tại chức.

            Ðó chỉ là một câu nói làm yên lòng người ở lại, để che đậy những hành động vô nhân của nhà nước đối với người cải tạo miền Nam.  Không còn ai nghe nói tới anh Chín.  Anh như vì sao lạc biến mất trên nền trời đầy tinh tú, như hạt cát lắng xuống đáy biển khơi.  Nhưng anh đã để lại cho anh em một tấm gương hy sinh cho một ước vọng cao cả.  Sau này có người bạn cho hay, anh Chín chuyển về trại Nam Hà, anh trở lên ngơ ngác như kẻ mất hồn, không còn nhớ điều gì đã xẩy ra. 

            Sau anh Khương mấy ngày lại đến lượt Vũ.  Trước khi đi lao động Kim bảo bạn:

            -"Chuyện đến đã đến.  Có gì anh nhắn cho anh em biết tin."

            Vũ mỉm cười trả lời:

            -"Lại chuyện cũ tái diễn.  Tôi đã sửa soạn tinh thần xa anh em một thời gian.  Dù sao chúng ta cũng vừa trải qua những ngày thật vui và đáng ghi nhớ."

            Chẳng riêng gì Vũ, mà cả tập thể này ai nấy đã sửa soạn tinh thần.  Chỉ có 5 phút thu xếp đồ dùng cá nhân.  Giây phút chia tay bạn hữu thật ngắn ngủi, bước ra khỏi cửa không biết mình đi về đâu, xa hay gần.

            Cũng không ai nghĩ tới những bữa ăn đỡ đói hay nằm đếm từng hạt bắp luộc.  Cũng chẳng ai phân biệt được ngủ ngon giấc trong chăn đắp màn che, hay cả đêm trăn trở phó mặc thân xác cho đàn muỗi rệp.  Và những sợi xích tay chiếc cùm chân kéo bật người dậy trong cơn mê ngủ.  Ðôi chân tê dại vì cùm xích lâu ngày, rồi sức khỏe yếu dần trong bóng tối.  Con người bám víu lấy sự sống thật mong manh.

            Những ngày sau đó "đại đội trừng giới" ít người dần.  Anh em lần lượt rủ nhau lên "nhà nóc bằng."  Hơn mười vi Linh mục, Tuyên-úy đã nhận nơi đó làm quê hương từ ngày mới tới trại.  Sau Vũ rồi đến các anh Tiếp, Tính, Tiến-Ðạt, Dương-Ðạt, Khuân, Vang, Tiên, Mười, Thuyên, Tiếu đi kỷ luật. 

            Anh Tiếp tử nạn vào sáng ngày 2 tháng 5 năm 1979 vì những trận đòn thù trong một lần trốn trại.  Cùng trốn với anh có LM. Nguyễn Hữu Lễ, Đại tá Trịnh Tiếu, giáo sư Nguyễn Sĩ Thuyên và anh Lâm Thành Văn.  Anh Tiếp bị đánh chết tại chỗ, thân xác anh được trật tự Bùi Đình Thi kéo lê trên những bậc tam cấp qua cửa phòng 5, đường lên khu kỷ luật.

            LM. Nguyễn Hữu Lễ không khá hơn bao nhiêu.  Cũng như anh Tiếp, LM. Lễ bị đám cán bộ trẻ đánh hội đồng ngay bờ sông Mã.  Kéo qua cổng gác và tiếp tục đánh cho đến khi ngất xỉu, rũ xuống như xác không hồn.  LM. Lễ thật may mắn, trật tự Thi tưởng ông đã chết nên ném xác anh Tiếp đè lên người ông.  LM. Lễ được trật tự Thi kéo lên khu kỷ luật, liệng bỏ vào phòng như một hành động phủi tay.  Sau này các nạn nhân sống sót sau lần trốn trại kể lại, trật tự Bùi đình Thi cũng tiếp tay cán bộ, đánh đập hành hạ thân xác các bạn tù.

            Sau nhiều ngày trăn trở giữa sự sống và cái chết trên nền đá nhơ nhớp, LM. Lễ tỉnh lại.  Thương tích bầm tím đầy người, tiêu và tiểu pha máu kéo dài cả tháng.  Không có thuốc chữa trị, cầm bằng thần chết cận kề.  Nghe Nguyễn Tiến Đạt, một người bạn trẻ trong nhóm Cổng Trời kể lại, mỗi lần trật tự Thi gánh phần ăn lên khu kỷ luật, hắn không dám vào phòng LM. Lễ vì xú uế xông lên nồng nặc, nên gọi Đạt bị giam kỷ luật ở phòng bên cạnh sang làm vệ sinh phòng LM. Lễ.  Lợi dụng khi trật tự Thi ra ngoài, Đạt nhúng chiếc khăn mang theo vào tô nước muối, và vắt những giọt nước muối vào miệng LM. Lễ trước khi lau chùi người ông và dọn dẹp căn phòng.  Có lẽ nhờ những giọt nước muối ấy, phần nào đã làm dịu những vết thương đang loang máu trong cơ thể LM. Lễ, và cũng nhờ ý chí sống còn mạnh mẽ, ông đã thoát khỏi lưỡi hái của tử thần. 

            Anh Lâm Thành Văn chết sau đó một tuần.  Anh bị đau dạ dầy nên phần ăn cứng càng làm dạ dầy của anh chẩy máu.  Khi chết chân của anh Văn vẫn còn trong vòng cùm.  Đại tá Trịnh Tiếu và giáo sư Nguyễn Sĩ Thuyên cũng chẳng khá hơn.  Thân thể bầm dập vì những trận đòn thừa sống thiếu chết, bị cùm xích lâu ngày trong phòng kỷ luật, sức khỏe yếu dần sau lần trốn trại.

            Số người còn lại thật khiêm nhượng, khiến căn phòng trở lên quá rộng.  Sàn nằm trên lác đác vài manh chiếu, sàn nằm dưới cũng thưa thớt.  Căn phòng lạnh lẽo như căn nhà hoang.

            Số người quá ít để được gọi là một đội lao động, trại biên chế đội 16.  Trại chuyển một số anh em phòng khác qua mà không phân tán số người còn lại của nhóm Quyết-tiến đi các phòng khác. Trại vẫn muốn canh chừng, gom đám Quyết-tiến vào một chỗ, dùng người khác theo rõi.  Như vậy nhóm Quyết-tiến  không thể "lây bệnh chống đối" tới các phòng một khi bị phân tán. Nhân số đội 16 đã được nâng lên thành 65 người.  Vẫn mang danh đội xây dựng, nhưng chưa có một công trình nào cho hợp với danh xưng, vẫn chỉ làm các công việc phụ…

 

Chú Thích:

 

Trại Thanh Cẩm

 

Trại Thanh Cẩm nằm trong xã Cẩm Thành bên bờ sông Mã, thuộc huyện Cẩm Thuỷ tỉnh Thanh Hoá. 

 Xã Cẩm Thành:  Năm 1964 xã Cẩm Thành và xã Cẩm Liên được tách ra từ xã Cẩm Thạch.  Sau khi được thành lập, xã Cẩm Thành gồm có 14 xóm: Chanh, Én, Muối, Vạc, Ngọc, Nấm, Phâng, Bọt, Bèo, Trẹn, Khạt, Chiềng Tràm, Cò Cánh và Hồng Thái.

Diện tích xã Cẩm Thành:  30, 64 km2. 

Phía Bắc giáp các xã: Điền Trung và Lương Trung, (huyện Bá Thước).  Phía Đông giáp xã Cẩm Lương (huyện Cẩm Thuỷ).  Phía Nam giáp các xã:  Cẩm Thạch và Cẩm Liên (huyện Cẩm Thuỷ).  Phía Tây giáp: xã Điền Hạ và Điền Trung (huyệ Bá Thước).

Xã Cẩm Thành nằm về phía Tây Bắc Huyện Cẩm Thuỷ, phần lớn nằm về hữu ngạn sông Mã. Xã Cẩm Thành có tỉnh lộ 217 chạy qua.

Huyện Cẩm Thuỷ:  là một thị trấn của tỉnh Thanh Hoá, gồm 19 xã:  Cẩm Bình, Cẩm Châu, Cẩm Giang, Cẩm Liên, Cẩm Long, Cẩm Lương, Cẩm Ngọc, Cẩm Phong, Cẩm Phú, Cẩm Quý, Cẩm Sơn, Cẩm Tâm, Cẩm Tân, Cẩm Thạch, Cẩm Thành, Cẩm Tú, Cẩm Vân, Cẩm Yên và Phúc Dó.

Cẩm Thuỷ có diện tích 425.03 km2.  Dân tộc gồm: Mường, Kinh và Dao.

Về giao thông, huyện Cẩm Thủy có đường Liên vận 217 nối vùng Thượng Lào với Biển Đông.

Huyện Cẩm Thuỷ nằm về phía Tây Bắc tỉnh Thanh Hoá, cách thành phố Thanh Hoá 80Km.  80o/o diện tích huyện Cẩm Thủy là đồi núi.

             Sơ đồ trại Thanh Cẩm

           (Xin đón nhận sự góp ý để

            hoàn chỉnh sơ đồ trại Thanh Cẩm)                                                                         

 

© Tác giả gửi bài đến Ban biên tập.
 © Diễn Đàn Người Dân ViệtNam  
(Trich Hồi Ký : Cuộc Chiến Cgiả hưa Tàn Của Tác Giả Trần Nhật Kim  gửi đến BBT)
  Đọc các bài liên quan của cùng tác  tại đây.

 

Share

scroll back to top
 

TIN MỚI NHẤT