DIỄN ĐÀN NGƯỜI DÂN VIỆT NAM

XÂY DỰNG CÔNG BẰNG THỊNH VƯỢNG NHÂN BẢN

Hồi Ký: Cuộc Chiến Chưa Tàn (09)_Trần Nhật Kịm

E-mail Print

                                                             Image result for CUỘC  CHIẾN  CHƯA  TÀN

 
9.
 
Tới vùng biên giới 
 
             Từ lúc khởi hành anh em vui vẻ nói chuyện như lâu ngày không gặp.  Câu chuyện vẫn xoay quanh hành động tàn bạo của đám cán bộ trại, của chính sách trước sau bất nhất.  Mọi người vui chuyện như chẳng quan tâm tới đám cán bộ võ trang đi theo xe, cũng chẳng phân vân lo lắng là mình sẽ đến nơi nào.  Ánh lửa châm thuốc thỉnh thoảng bùng lên soi rõ từng khuôn mặt không thoáng nét ưu tư,  coi thường tên sĩ quan công-an tay lăm lăm khẩu súng ngắn, đôi lúc choài người về phía anh em quát tháo bảo mọi người im lặng.    
                                               Image result for duong len trai tu cong troi
 
Kim không phân định được con đường mình tới đây vì khi đó đã quá nửa đêm, ánh sao không đủ chiếu sáng cảnh vật xung quanh.  Và bây giờ trở ra, xe đang lọt vào giữa rừng cây, các con đường quanh co như mất hút trong màn đêm. Anh chỉ nhìn thấy khung cảnh phía trước thu gọn trong vùng ánh sáng của hai bóng đèn chiếu ra từ đầu xe. Sau một thời gian khá lâu xe mới tới đường lộ.
Khi xe tới khu ven biên thành phố Hà-nội đã vào nửa đêm. Thành phố đang say ngủ, không có lấy một bóng xe chạy qua. Những ngọn đèn đường vàng lợt mờ sương, không đủ sáng cho con phố vắng.  Cái lạnh cắt da của mùa đông miền Bắc như dấu kín mọi người trong nhà.  
Kim chợt thấy một người đàn ông quần áo chỉnh tề đang rảo bước trên đường, qua dáng đi phải là người đã có tuổi.  Ông đi đâu vào giờ này khi mọi người đang trốn lạnh.  Có phải ông đi về phía nhà thờ cũ, như vẫn còn thói quen ra khỏi nhà vào giờ phút này.  Ðể cầu xin có một cuộc sống an lành, và tâm hồn được an ủi.
Vào nửa đêm, anh em yêu cầu Linh-Mục Lễ làm phép lành. Trong xe đột nhiên yên lặng.  Kim nghe rõ từng hơi thở của các bạn hoà nhịp với lời kinh nhè nhẹ thanh thoát. Trong hoàn cảnh này, vào giây phút này anh càng thấy kính trọng hơn đối với người đại diện Chúa trước mặt. Linh mục Nguyễn-hữu-Lễ đã đi cùng chuyến tầu từ Nam ra Bắc, chia xẻ với anh em nhiều cay đắng.  Chẳng phân biệt giữa đạo và đời, giữa con chiên và người đại diện Chúa.  Cấp bậc địa-vị trước đây đã trở thành vô nghĩa, tất cả chỉ còn tình huynh đệ, là tình yêu thương con người mà sự sống và cái chết đã gắn bó với nhau.     
Mặc cho tiếng hét của đám cán bộ công an, lời kinh vẫn trầm bổng, như đang gửi hồn vào chốn thiêng liêng tối thượng.  Kim như nghe rõ cả tiếng trái tim mình đập trong lồng ngực. Anh đặt dấu hỏi, tại sao những người này lại không khiếp sợ trước bạo lực.  Phải có một cái gì mầu nhiệm mà con người đã dốc lòng tin tưởng, vượt qua những hiểm nguy đe dọa.  Anh chợt hiểu khi nhớ tới gương sáng của các Thánh tử vì đạo với đức tin cao cả.
Tới ngã ba, nơi góc đường có xây chiếc bảng hình chữ nhật hiện rõ dòng chữ Hà-Sơn-Bình dưới ánh đèn ống.  Xe theo mũi tên trên bảng rẽ về phía trái.  Từ đây tới tỉnh Sơn-Tây theo đường chính chỉ gần 40 cây số.  
Anh nhớ ra sắp tới quê vợ, xã Phượng-Cách phủ Quốc-Oai. Anh nghĩ tới người cha vợ chưa gặp mặt một lần, mà vì cuộc chiến huynh đệ tương tàn đã chia cắt tình cảm yêu thương cha con chồng vợ, kẻ Bắc người Nam.  Theo vợ anh nói nếu đi ngả Hà-Ðông, từ Hà-nội về làng chỉ có khoảng 16 cây số. Nếu đi tắt theo đường làng còn ngắn hơn nữa. Trước kia thuộc tỉnh Sơn-Tây, bây giờ mấy tỉnh gom lại mang tên mới là Hà-Sơn-Bình.  
Nhà nước thay đổi thể thức tổ chức cơ cấu địa-phương để tiết kiệm ngân qũy, nhưng có nhiều điều ca thán là cơ chế nặng nề, không thống nhất ý kiến trong việc quản lý, vẫn còn nặng tính địa phương. Vì vậy đã không tiết kiệm còn phung phí hơn trước, mà thủ tục lại trì trệ.   
Trời đã sáng, gió ban mai mát dịu, ánh mặt trời chói lòa lơ lửng giữa bầu trời xanh trong.  Những mảnh ruộng lấp xấp nước trải dài bên đường, gợi nhớ hình ảnh khi anh về quê cha vùng Hải-hậu - Nam-Ðịnh.  Theo các bạn ra đồng vào ngày mùa, ngồi trên mình trâu thả rong ăn cỏ, nhìn cảnh trâu cầy người cấy…Những hình ảnh nghèo nàn đơn sơ nhưng khó quên.  Bây giờ cảnh cũ đã thay đổi, không hiểu người ta đã đưa trâu đi đâu lại lấy người làm thế.  Những thanh niên khỏe mạnh cường tráng ở đâu không cầy thay trâu, có phải vì đã trải thân trên đường mòn Hồ chí Minh và tại chiến trường miền Nam nhiều năm về trước, hay vì đời sống mới nam nữ bình quyền nên phụ nữ lãnh phần trách nhiệm thay trâu.                                                          
Con đường trải nhựa phẳng ngày xưa đã nổi gồ những viên đá cục.  Nước mưa xối mòn mặt đường để lại những chiếc ổ gà khiến xe nhẩy lên liên hồi.  Con đường cũng hẹp lại vì hàng cây trồng hai bên, và hai lạch nước "thủy lợi" đào sát chân đường khiến mặt đường khó lòng mở rộng.
Xe chạy không nghỉ, đã qua địa phận Sơn-Tây bát ngát ruộng đồng.  Ðịa danh trước mặt là Việt-trì.  Con đường trở lên hoang vắng, quang cảnh khô cằn thiếu hẳn vẻ mềm mại ấm cúng của vùng đồng ruộng.
Khi qua khỏi Việt-trì, Vĩnh-Yên nằm về hướng bên phải, và ngược lên không xa theo hướng tay trái là Phú-Thọ.  Anh nhớ khi còn nhỏ học địa dư miền thượng du, anh đã ngơ ngác trước các địa danh mang đầy tính chất huyền bí.  Nào là Pa-kha, Hoàng-su-Phì đến Fan-si-Pan, Pia Oac với âm thanh miền núi, ngờ ngợ hình ảnh hoang vu.  Nhưng bây giờ chúng chẳng còn cách xa anh bao nhiêu, đang ở sát một bên.  Anh có cảm tưởng là mình sẽ nhận vùng rừng núi hoang vu này làm chỗ an nghỉ sau cùng.   
Khi tới địa phận tỉnh Tuyên-Quang, khung cảnh có phần thay đổi. Hai bên đường xuất hiện những xóm nhà  thấp nhỏ, mái ngói đỏ au.  Nhánh sông chảy qua đây chỉ còn là một lạch nước, nằm trơ trọi giữa bãi cát mầu nâu tía.
Xe ngừng lại giữa khu chợ nhỏ bên đường, quán hàng bầy bán trước những căn nhà mái rạ lụp xụp.  Bây giờ khoảng một giờ trưa, hàng quán đã thưa người.  Ðám cán bộ thay nhau vào ăn trưa, còn bác tài thiếp đi trên tay lái.
Trông anh ta thật tội nghiệp, lái không ngưng nghỉ từ đêm qua đến giờ.  Nhiều khi vừa lái xe vừa dụi mắt, một tay cầm tay lái một tay xoa mặt.  Chắc anh ta muốn xua đuổi cơn buồn ngủ luôn kéo xụp đôi mắt.  Có lúc đang lái xe, đầu anh gục nhẹ về phía trước, chiếc xe hơi chao đi, anh chợt tỉnh lấy lại tay lái.  Trước cảnh này, anh em nói đùa với nhau "dễ hắn định đưa mọi người trên xe đi thăm bác Hồ."
Anh em nhờ cán bộ mua cho ít thức ăn với số tiền trại Nam-Hà giữ từ khi anh em ra Bắc.  Dân chúng to nhỏ nhìn vào xe, một số anh em dơ tay bị còng cho mọi người dưới chợ trông thấy. Chắc họ đoán biết những người trên xe là ai.
Kim mua nhánh chuối xứ trái no tròn, vỏ mỏng mầu vàng ươm.  Vài chiếc bánh nếp ngoài gói lá chuối còn nóng hổi.  Anh thèm chúng đã lâu rồi, cái đói dầy vò anh đã hơn hai năm nay.  Bữa cơm chiều qua bị bỏ quên vì đổi phòng và chuyển trại, và lúc này trong dạ dầy anh như có hàng ngàn con sâu đang dẫy dụa. 
Anh thưởng thức từng miếng bánh nếp, hương vị thật thơm ngon.  Vị bùi của nhân đậu như quyện vào chân răng, hòa tan trong miệng, xoa dịu con sâu đói dang chờ đón nơi dạ dầy.  Ðúng là miếng ăn ngon trong suốt thời gian dài vừa qua.   
Cửa xe mở rộng, các em nhỏ nhẩy lên xe.  Thấy chúng anh nhớ đến đám con anh ở nhà. Anh em chia cho chúng những viên kẹo bột vừa mua.  
Trong khoảnh khắc khu chợ như ngưng đọng.  Họ nhìn vào xe như muốn thấy rõ từng khuôn mặt, những bộ mặt sáng sủa, lời nói hòa nhã khác hẳn những người đã đi qua đây.  Kim nghe rõ mấy bà bán hàng quay nói với nhau: "cải tạo miền Nam đấy, bán rẻ cho họ..." Anh không thấy ở họ một chút hận thù như đám cán bộ thường nói.
Tình đồng bào là thế.  Họ thông cảm hoàn cảnh của các anh, hay hoàn cảnh này cũng giống như hoàn cảnh họ đang sống.  
Họ chưa thấy quân đội miền Nam ra đánh miền Bắc, mà chỉ thấy con em họ bị thúc đẩy nhập ngũ ồ ạt vào miền Nam dưới danh nghĩa bênh vực nhân dân miền Nam bị áp bức. Với chiêu bài miền Nam nghèo khó nên hạt gạo phải chia tư, lá lành đùm lá rách.  Ðám dân nghèo khó này đã phải thắt lưng buộc bụng, hy sinh cả người lẫn của cho "mộng ước cao cả" của Bác và Ðảng.  
Bây giờ họ đối diện với người miền Nam, mà nhà nước thường nhắc nhở trước đây là "tình anh em ruột thịt", và ngỡ ngàng trước hoàn cảnh của những người ruột thịt mà nhà nước thường tuyên truyền, sau khi thống-nhất đã biến đổi từ "nghĩa đồng bào - thành nợ máu xương."        
Sau mấy thập niên chiến tranh, và hai mươi năm cách biệt, Kim vẫn nhận ra thứ tình cảm cố hữu của người miền Bắc.  Năm 1946, anh rời Hà-nội về quê Nam-Ðịnh để tránh trận chiến ngày một lan rộng.  Về quê chẳng được bao lâu, gia-đình anh lại phải tản cư sang Thái-Bình, anh đã ghé chùa Keo và phủ Kiến Xương.  Cũng như phần đông đồng bào các nơi chạy về đây, đã được địa phương giúp đỡ tận tình từ vật chất đến tinh thần.  
Cả miền Bắc như thế, người ở nơi an bình giúp người chạy giặc ngoại xâm.  Khi đó không hẳn là người dân ở vào thời kỳ dư dả, nhưng vì nghĩa đồng bào, chủ với khách chia nhau từ củ khoai đến lon gạo.  Anh đã thấm đượm được thứ tình cảm yêu thương đồng bào đùm bọc từ khi còn nhỏ.
Xe vẫn theo con lộ chạy thẳng hướng Bắc.  Anh không biết mình sẽ tới đâu, nơi nào mới là trạm chót dừng chân. Tới Thị Xã Tuyên-Quang, xe bỏ đường lộ rẽ vào sân vận động nằm thấp hơn mặt đường.  Xe dừng lại ở giữa sân, anh em được xuống xe nghỉ chân sau hơn nửa ngày đường ngồi bó gối.  
Hai người vẫn chung một còng, nên một người phải đứng nhìn khi bạn mình làm công việc vệ-sinh cá nhân sau các bụi cây ở cuối sân vận động.
Anh em ngồi quây quần giữa sân cỏ, đám cán bộ đứng gác xung quanh.  Ðã mười mấy tiếng đồng hồ ngồi không tựa lưng, thân thể mỏi nhừ như rời ra từng khúc, người thật mỏi mệt sau một đêm không ngủ.  Anh em được ăn bữa cơm trưa, phần cơm trại mang theo.  Mọi người nói cười vui vẻ, như không có gì xung quanh, trong khi một số đông dân chúng địa phương đứng trên đường nhìn xuống đám người y phục lẫn lộn vừa tù vừa dân sự.
Sau bữa ăn trưa, xe tiếp tục lộ trình theo hướng bắc, xa dần xóm nhà đông đúc, đường đi mỗi lúc một vắng vẻ hoang sơ hơn.  Xe đã vượt qua Hàm-Yên rồi Vĩnh-Tuy. Khi tới địa phận Bắc-quang, anh biết là mình không tới Lào Cay.  Một hình ảnh thật mơ hồ thoáng trong trí nhớ về nơi nghỉ mát Sapa, một khu rừng thưa thật đẹp mà khi còn nhỏ anh không phân định được vẻ đẹp của núi rừng.
Xe vẫn theo hướng Bắc, vượt qua những cánh rừng trải dài hai bên.  Con đường đất nhỏ dần, mất hút vào rừng cây phía trước.  
Gần 6 giờ chiều tới một Thị xã, xe chạy qua khu chợ rồi tới một bến xe.  Nhìn tấm biển treo nơi trạm xe, Kim mới hay đây là Hà-Giang, một tỉnh biên giới Việt-Trung.  Không hiểu xe ngừng ở đây hay còn đi tiếp.  Anh vừa trải qua quãng đường dài gần 200 cây số từ tỉnh Tuyên-quang tới đây, và không còn bao xa nữa là tới lằn ranh hai nước Việt-Trung. 
Vào giờ phút này lòng anh vẫn dửng dưng, không quan tâm tới là họ sẽ đưa anh đi đâu.  Mặc dù âm vang hai chữ "Hà-giang" đã một thời làm người miền Bắc chẳng mấy ưa thích.  Nó chứa đựng những huyền thoại kỳ bí, một nơi rừng thiêng nước độc, đã tới ít khi có trở về.  Nó cho mọi người cái ấn tượng hãi hùng và muốn xa lánh.
Nhưng bây giờ anh đã đặt chân tới đây, liệu có còn con đường về.  Trong mấy năm đi tù nay đây mai đó, không có gì cho anh một chút tin tưởng ở ngày về, nếu có chỉ là ước vọng mong manh, như một hy vọng bọt bèo bám víu để sống.  Thành thử anh đã quen đi với khung cảnh mới, đổi thay dồn dập trong một thời gian thật ngắn ngủi.  Tâm tư anh đôi lúc bấn loạn, trái tim như bị bóp nghẹt khi nghĩ tới phải vĩnh viễn xa rời người thân yêu.  Sau đó thân xác bải hoải không mấy tha thiết với hiện tại.
Ðã thấy nhiều bộ đội xuất hiện.  Nghe nói có tới hai sư đoàn chính quy đồn trú ở đây, với nhiệm vụ án ngữ mặt Bắc, đề phòng quân đội Trung Hoa tràn qua biên giới như những trận đánh đã xẩy ra.
Xe vẫn tiếp tục theo hướng Bắc.  Ðường lộ nhỏ dần,  lên dốc nên xe không chạy nhanh như trước.  Mặt trời đã khuất dạng từ lâu, rừng cây hai bên đường một mầu xám đậm, khung cảnh miền núi chìm trong bóng tối thật nhanh.
Hơn 8 giờ tối mới tới chỗ rẽ, xe rời lộ theo con đường nhỏ phía bên trái.  Kim cố nhìn xung quanh nhưng màn đêm phủ trùm vạn vật.  Từ xa, nơi chân núi leo lét ánh đèn của trạm gác nằm sát bên đường.  Xe ngừng nơi trạm.  Người cán bộ võ trang ra khỏi vọng gác dơ cao chiếc đèn bão kiểm soát và ra hiệu cho xe chạy.
Xe rời vọng gác tiếp tục đi theo con đường dốc, bất chợt anh nghe thấy giọng ngâm của bác tài:
 
     "Quyết-Tiến là cổng của trời,
      Sao mà khổ thế hỡi người trần gian."
 
Kim không hiểu nghĩa của chữ Quyết-tiến, tại sao lại là cổng của trời.  Giọng ngâm không đúng âm điệu như một nghệ sĩ chuyên nghiệp.  Nhưng trong khung cảnh tĩnh mịch của đêm vắng, âm thanh nghe thật buồn, não lòng người tới đây.  Có phải nó diễn tả cái thê lương, cuộc sống bất hạnh của những người ở nơi này.
Xe quanh co vượt hết con đường dốc mới tới mặt bằng, và ngừng trước dẫy nhà ngang, ánh đèn vàng không đủ sáng cho căn phòng.  Anh tự hỏi đây là chốn nào, sao lại âm u như vùng địa ngục, hoang vắng như bãi tha ma mộ địa.  Một người xách đèn bão đi tới chỗ xe đậu.  Anh em xuống xe, được tháo bỏ chiếc còng tay, tới ngồi hàng đôi trước cửa căn phòng đèn thắp sáng.
Người Sĩ-quan công-an trại Nam-Hà ôm chồng hồ sơ bước vào nhà.  Hắn để chồng hồ sơ cá nhân của hai mươi anh em trên bàn, không quên kèm theo lời giới thiệu với người ngồi trước mặt:
"…Chúng tôi gửi các anh những con cọp xám của trại Nam-Hà…"
Lời gửi
Sau một đêm không ngủ, lại vượt qua một quãng đường dài mệt mỏi, Kim cảm thấy thoải mái được nằm duỗi thẳng tay chân dù nền xi măng gía lạnh.  Anh thiếp đi trong giấc ngủ không pha trộn một hình ảnh đẹp nào. 
 gấm thật nồng nhiệt chí tình, đã đẩy các anh vào con truân hơn đường gian.   

 

© Tác giả gửi bài đến Ban biên tập.
 © Diễn Đàn Người Dân ViệtNam  
(Trich Hồi Ký : Cuộc Chiến Cgiả hưa Tàn Của Tác Giả Trần Nhật Kim  gửi đến BBT)
  Đọc các bài liên quan của cùng tác  tại đây.
 

Share

scroll back to top
 

TIN MỚI NHẤT