DIỄN ĐÀN NGƯỜI DÂN VIỆT NAM

XÂY DỰNG CÔNG BẰNG THỊNH VƯỢNG NHÂN BẢN

Phỏng vấn Giáo Sư -Trần Gia Phụng “Việt Sử Đại Cương”_Hồng Phúc & Mai Ly phụ trách .

E-mail Print
                                                                                                                                                                                                                                                                                                                             Image result for “Việt Sử Đại Cương”
Kính thưa qúi vị thính giả,
 
Hôm nay, chương trình Thế Giới Ngày Nay xin được gửi đến qúi vị cuộc trò truyện với nhà nghiên cứu lịch sử, Giáo sư Trần Gia Phụng, về Bộ “Việt Sử Đại Cương” của ông. Đây là một công trình biên khảo đồ sộ, viết về từ thời lập quốc cho đến 1975, gồm 7 tập, dầy khoảng 3,500 trang.
 
Giáo sư Trần Gia Phụng tốt nghiệp Đại Học Văn Khoa và Đại Học Sư Phạm Huế. Ông đã có trên 20 tác phẩm nghiên cứu sử học và là một diễn giả thường xuyên xuất hiện trên chương trình TGNN của Đài phát thanh Viêt Nam và nhiều cơ quan truyền thông báo chí tại hải ngoại.
 
Và bây giờ Mai Ly xin mời quí vị cùng theo dõi cuộc trò truyên của Hồng Phúc với giáo sư Trần Gia Phụng./.
 
Câu hỏi 1:  Đại đa số những nhà sử học ở hải ngoại viết sách nghiên cứu sử chuyên biệt từng vấn đề, nhất là những vấn đề hiện đại, chiến tranh, cộng sản, Hoa Kỳ, v.v…, thì tại sao ông lại soạn bộ Việt sử đại cương (VSĐC) từ thời lập quốc đến năm 1975?
 
Trả lời câu hỏi 1:  Kính chào quý vị thính giả Đài Tiếng Nói Việt Nam, thưa anh Hồng Phúc.  Chúng ta gần tuổi nhau, xin gọi nhau bằng anh em cho thân mật.  Xin đừng gọi tôi là giáo sư. 
 
Thưa anh, thú thật khi rời Việt Nam, tôi có ý định viết một bộ thông sử giản lược như bộ Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim (TTK), vì tôi có hai suy nghĩ:  1) Thứ nhứt, bộ sách của TTK chỉ viết đến 1884.  Từ năm 1884 đến năm 1975, tuy thời gian ngắn ngủi so với chiều dài lịch sử đất nước, nhưng là thời hiện đại, nhiều sự kiện dồn dập, nên cần phải viết tiếp. 2) Thứ hai, TTK viết VNSL năm 1920.  Chắc chắn lúc đó tài liệu còn hạn chế, không rộng rãi như bây giờ.  Từ đó, đến đầu thế kỷ 21, biết bao tài liệu mới xuất hiện, có thể bổ túc.   
 
Hơn nữa, khi tôi rời Việt Nam năm 1995, trong nước, dưới chế độ cộng sản, đã có bộ Lịch sử Việt Nam , gồm 2 tập, khổ lớn, tổng cộng khoảng 800 trang, xuất bản tại Hà Nội năm 1971.  
 
Tập I soạn lịch sử Việt Nam từ thời Hùng Vương đến thời Pháp thuộc, không đề tên tác giả, Nxb. Khoa Học Xã Hội ấn hành năm 1971, ghi ngay ở trang 2 rằng: “Sách biên soạn dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Uỷ Ban Khoa Học Xã Hội Việt Nam” (nguyên văn).  Tập II do Nguyễn Khánh Toàn chủ biên, cùng 4 tác giả, cũng do nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội ấn hành tại Hà Nội năm 1985.  Mở đầu “Lời nhà xuất bản”, sách nầy có câu sau đây: “Nội dung tập II viết theo đề cương của đồng chí Chủ biên Nguyễn Khánh Toàn và được đồng chí Trường Chinh, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng cho những ý kiến và tư tưởng chỉ đạo.”  Cả hai ghi chú nầy cho thấy CSVN rất chú trọng và kiểm soát gắt gao việc biên soạn lịch sử nước nhà.   Cộng sản viết sử theo sử quan CS, phục vụ đảng CS.  
 
Vì vậy, tôi tự nghĩ mình cần phải viết lại bộ thông sử khi ra khỏi nước năm 1995.  Nhưng ước vọng là một chuyện.  Làm được hay không là chuyện khác.
 
Câu hỏi 2: Thưa anh, chúng tôi đã từng được nghe: Chính sử, Huyền sử, Dã sử… nhưng chưa bao giờ nghe nói đến THÔNG SỬ. Vậy thông sử là gì?
 
Trả lời câu hòi 2:   Thưa anh, theo nghĩa tầm nguyên, thông là suốt, sử là lịch sử.  Thông sử là lịch sử suốt từ xưa đến nay.  Trong Hán Việt tự điển, Đào Duy Anh định nghĩa thông sử là lịch sử thông quán cổ kim.
 
Câu hỏi 3:  Thưa anh, học giả Trần Trọng Kim đã để lại cho hậu thế tác phẩm “Việt Nam Sử Lược” mà đã được Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa dùng làm tài liệu giảng dậy ở bậc Trung học. Nhân anh có nói về Trần Trọng Kim, xin anh cho nghe sơ lược cảm nghĩ của anh đối với sử gia Trần Trọng Kim.
 
Trả lời câu hỏi 3:  Thưa anh Hồng Phúc, Trần Trọng Kim (TTK) là một sử gia tôi rất kính trọng.  Ông là một tác giả lớn vào nửa đầu thế kỷ 20.  Ông soạn rất nhiều sách làm căn bản cho nền học thuật hiện đại Việt Nam.  Ông có công rất lớn khi soạn bộ Việt Nam Sử lược (VNSL).  Để thấy giá trị công trình của TTK, xin chú ý đến điểm sau đây: 
 
Năm 1867, Nho học bị Pháp bãi bỏ tại Nam Kỳ.  Năm 1917, nền Nho học chấm dứt ở Hà Nội.  Năm 1919, nền Nho học chấm dứt ở Huế.  Nghĩa là từ đây, người Việt không còn học chữ Nho, tức chữ Tàu.  Không học chữ Nho thì không đọc được sách chữ Nho.  Các bộ sách sử Việt Nam trước đây đều viết bằng chữ Nho, quan trọng nhứt là bộ Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán nhà Nguyễn.  Lúc đó, không biết chữ Nho, thì không đọc được sử Việt.  Một dân tộc mà không biết sử nước mình là một dân tộc chết.  May thay, TTK xuất bản bộ Việt Nam sử lược (VNSL) bằng Quốc ngữ tại Hà Nội lần đầu năm 1920, ngay sau khi chữ Nho tuyệt mệnh trên toàn quốc.  
 
Lúc đó, người Việt bắt đầu học quốc ngữ, đọc quốc ngữ, nên đọc quốc sử bằng quốc ngữ, đọc được bộ VNSL của TTK.  Nhờ đó, người Việt khỏi bị hụt hẩng, khỏi bị lạc khỏi dòng sinh mệnh dân tộc.  Nói cách khác, TTK đã có công lớn nối mạch quốc sử từ chữ Nho qua quốc ngữ, để duy trì và đề cao quốc thống nước ta.  Cảm ơn sử gia Trần Trọng Kim.
 
Câu hỏi 4:  Thưa anh, anh có nói rằng người cộng sản viết sử theo mệnh lệnh của tổ chức, theo lập trường của đảng cộng sản. Vậy còn anh, anh đứng trên lập trường nào để viết sử?  
 
Trả lời câu hỏi 4:  Câu hỏi thật thú vị thưa anh Hồng Phúc.  Chủ trương của CS là bất cứ việc gì đều phục vụ chính trị, phục vụ chế độ, phục vụ đảng CS.  Lịch sử phải viết theo chủ trương chính sách của đảng CS.  Nếu thế, thì lịch sử sẽ không trung thực, không phản ảnh sự thật khách quan.  
 
Viết sử khách quan rất khó, nhưng chúng ta phải cố gắng khách quan được chừng nào tốt chừng đó.  Tuy nhiên tôi cho rằng không thể có chuyện khách quan tuyệt đối vì mỗi người không thể tách rời khỏi cái bóng của mình.  Nói theo ngôn ngữ ở Bắc Mỹ, mỗi người có một background, và không ai có thể thoát hẳn ra khỏi background của mình.  Tôi không dám nói chuyện người khác.  Tôi lấy ví dụ chính tôi:  Tôi là con một công chức Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).  Từ nhỏ, tôi học trường VNCH.  Lớn lên, tôi dạy học trong trường trung học VNCH.  Nền giáo dục VNCH là nền giáo dục tự do, khoa học, khai phóng và nhân bản.    Trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa, dầu bị hạn chế vì chiến tranh, chúng ta luôn luôn được tự do suy nghĩ, tự do viết và tự do trình bày những điều chúng ta nghiên cứu
 
Tôi khẳng định từ khi còn ở trong nước cho đến bây giờ, tôi không theo bất cứ một đảng phái nào, và trừ cha mẹ tôi, tôi không vâng lệnh ai cả, nhưng tôi phải thẳng thắn thừa nhận lập trường của tôi là lập trường một người dân VNCH.  
 
Tuy nhiên, có điều buồn cười là viết sự thật, tuy kèm theo tài liệu chứng minh, nhưng đôi khi vẫn bị phản đối.  Định kiến về tôn giáo và chính trị của mỗi người là một ngọn núi khổng lồ trong tâm trí người đó.  Dầu vậy, mình phải chấp nhận và viết đúng theo lương tri dẫn dắt.
 
Câu hỏi 5:  Bộ VSĐC là bộ thông sử duy nhất ở hải ngoại.  Xin anh cho nghe phương pháp hình thành bộ thông sử VSĐC, từ khi còn là ý tưởng cho tới khi đặt bút viết, rồi hoàn thành cho tới lúc phát hành, trải qua những công đoạn như thế nào?
 
Trả lời câu hỏi 5:  Thưa anh, như đã nói, tôi nuôi ý định viết bộ thông sử từ khi ra khỏi nước, nên việc đầu tiên là tôi viết những bài báo ngắn mà tôi gọi là những câu chuyện Việt sử, đăng rãi rác các tạp chí Bắc Mỹ, để thăm dò dư luận, xem độc giả nghĩ như thế nào về cách viết của mình, về những lý giải của mình, rồi sau đó đưa những bài nầy vào sách.
 
Ngay khi in tập I bộ Việt sử đại cương (VSĐC), tôi có trình bày trong lời nói đầu là bộ nầy sẽ gồm 5 tập, mỗi tập từ 400 đến 500 trang, thì có một số bạn bè nghi ngờ, không tin điều đó.  Họ e-mail đặt cho tôi hai câu hỏi:  Câu hỏi 1: Tôi có đủ kiên nhẫn một mình viết bộ sách dài hơi như vậy hay không, hay giữa đường đứt gánh?  Câu hỏi 2: Tiền đâu tôi in được bộ sử nhiều tập như thế, vì khi qua đây, tôi chỉ là một người tỵ nạn tầm thường, ngồi nhà viết sách, chẳng có nghề nghiệp gì cả.  Viết sách làm gì có lời mà sống?
 
Về việc viết sách, thì thú thật lúc mới qua, tôi nghĩ đơn giản thế nầy: mỗi ngày chỉ cần viết trung bình một trang giấy viết thư, thì một năm được 365 trang.  Hai năm sẽ được trên 500 trang, tức là một quyển sách.  Tôi nói mỗi ngày 1 trang, chứ thật sự có ngày chẳng viết mà có ngày viết 2 hay 3 trang, có khi 5 trang.  Còn cần có thời giờ cho gia đình, giải trí bình thường và nhứt là có thời giờ tìm tài liệu, đọc sách, tra cứu, ghi chú rồi mới viết.  
 
Tôi may mắn là được gia đình, vợ con ủng hộ việc viết sách, xin cảm ơn vợ con.  Và tôi cũng may mắn được bạn bè khắp nơi, từ Bắc Mỹ, Pháp, Úc hỗ trợ, giúp tìm tài liệu cho tôi viết.  Xin cảm ơn bạn bè, nhứt là những người mới quen biết, cũng giúp cho tôi trong việc viết sách.
 
Về việc tiền đâu để in sách, thì cũng đơn giản.  Khi in quyển sách đầu tiên, tiền in sách do gia đình cho.  Các cháu nói là chỉ cho tiền in quyển đầu thôi.  Nếu bán được thì lấy tiền đó in quyển kế tiếp.  Tôi gọi đó là kế hoạch lấy sách nuôi sách.  Tôi không sống về việc bán sách.  Đời sống vợ chồng tôi đạm bạc, ít nhu cầu, do các con giúp đỡ.  Tôi chỉ có một thú vui nho nhỏ là đọc sách.  Hồi mới qua Canada thì đi thư viện đọc sách.  Bây giờ, tìm tòi, đọc trên Internet.  Bạn bè cho mượn sách.  Có một ít tiền thì mua sách.  Tôi không có nhu cầu về các giải trí khác.
 
Ở Canada, sức khỏe công dân do chính phủ bảo hiểm.  Đi khám bệnh có bác sĩ gia đình phụ trách. Chính phủ trả tiền cho bác sĩ gia đình mỗi lần khám.  Người dân chẳng tốn kém gì.  Khi mới qua, tôi may mắn được vị bác sĩ gia đình giúp đỡ tận tình.  Đó là bác sĩ Bùi Xuân Nhiếp.  Mỗi lần tôi cần thuốc gì thì bác sĩ Nhiếp dùng échantillon của các viện bào chế quảng cáo, cho tôi.  Em cảm ơn anh nhiều, anh Nhiếp ơi.
 
Tiền bán được sách, tôi gởi vào một account riêng.  Đủ tiền thì in tiếp.  May mắn là tôi được bạn bè hỗ trợ.  Tôi đến Canada năm 1995.  Năm sau, tôi in quyển đầu là quyển Trung Kỳ dân biến 1908, là bản thảo luận án cao học của tôi.  Bạn bè được tin liền mua ủng hộ.  Có người còn gởi tiền tặng thêm nữa.  Tuy vậy, tôi vẫn còn hồi hộp, vì không biết sách mình bán hết là nhờ bạn bè mua giúp hay nhờ độc giả đón nhận, tìm đọc sách mình.
 
Khi đủ tiền in quyển thứ hai, tôi vẫn còn hồi hộp, nhưng từ khi tôi được một số hiệu sách ở bên Mỹ đặt mua, tôi bắt đầu tin tưởng, nhứt là đến quyển thứ ba thì tôi yên tâm, kế hoạch lấy sách nuôi sách của tôi thành công.  Đó là diễn tiến in ấn và phát hành các sách tôi viết cho đến nay.
 
Câu hỏi 6:  Thưa anh, bộ VSĐC khá đồ sộ, khoảng 3500 trang.  Tại sao anh chỉ viết một mình, tự lực một mình, từ biên soạn cho đến phát hành, mà không hợp tác với ai? 
 
Trả lời câu hỏi số 6:  Thưa anh Hồng Phúc, tôi rất muốn kiếm người hợp tác cùng soạn sách, nhưng khó quá.  Khó vì ở hải ngoại, ít người chuyên môn về sử, ít ai chịu làm việc dài hạn mà hầu như không lợi nhuận, khó vì vấn đề lập trường.  Nói thì dễ, nhưng làm việc chung thì rất khó.  Thôi thì tôi làm một mình, tới đâu hay tới đó.  Tôi làm một mình từ A đến Z.  Tôi viết, lay out, edit, giao hard copy và CD cho nhà in.  Tôi chỉ tốn tiền in.  Vì vậy tôi chỉ cần bán sách để có đủ tiền in sách tiếp mà thôi.  Dư ra thì để dành đó, chuẩn bị cho quyển kế tiếp nữa.
 
Còn việc in và phát hành sách thì không khó, nhưng tôi ngại nên không kiếm người hợp tác.  Ngay tại Toronto, sau khi tôi được giải nhứt giải văn học Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự do năm 2002, có người sẵn sàng giúp tiền tôi in sách, nhưng tôi sợ mang tiếng là viết sách theo đơn đặt hàng.  Nên tôi từ chối các đề nghị và cứ theo kế hoạch lấy sách nuôi sách, rồi cũng xong.  Tôi chỉ cần đủ tiền in sách kế tiếp mà thôi. 
 
Câu hỏi 7:  Thưa anh, bộ VSĐC có bao nhiêu trang, gồm mấy tập?  Nội dung bao gồm những gì, và anh phân chia các giai đoạn lịch sử nước nhà như thế nào?  
 
Trả lời câu hỏi số 7:  Thưa anh, bộ VSĐC viết từ thời lập quốc đến năm 1975, gồm 7 tập, tổng cộng khoảng 3,500 trang.  Lúc đầu, tôi dự tính gồm 5 tập, rồi sau kéo dài đến 7 tập.  Tôi cố gắng phân chia các sách cho hợp lý, dựa trên những cột mốc lịch sử quan trọng mà ai cũng biết.  Tôi xuất bản tập 1 năm 2004.  Tôi xuất bản tập 7 năm 2013.  Như vậy tổng cộng là 10 năm tôi viết và in xong bộ nầy.  
 
Câu hỏi 7 phụ thêm:  Thưa anh, đặc biệt tại sao bìa sách của anh toàn màu vàng?
 
Cảm ơn anh Hồng Phúc đã nhắc chuyện bìa sách tôi toàn màu vàng.  Trước đây đã có một nhà phê bình chê bìa sách tôi đơn điệu màu vàng.  Tôi không trả lời vì đây là tâm tư thầm kín của tôi.  Nay anh hỏi lại thì tôi xin thưa ngắn gọn là tôi chọn màu vàng vì màu vàng là màu cờ sắc áo của quê hương mình, từ thời xa xưa ông bà mình đã chọn màu vàng.  Đơn giản chỉ có thế.  Đó là tình cảm của tôi, gói ghém những trang sách lịch sử đất nước.  Ai chê cười thì tôi đành chịu vậy.
 
Câu hỏi 8:  Anh có nói rằng anh là người viết sau, soạn lại lịch sử, vậy phải tìm cái mới.  Thưa anh, có cái gì mới trong bộ sách của anh?
 
Trả lời câu hỏi số 8:  Vâng, tôi là người soạn lại lịch sử đi sau, sau xa so với các vị tiền bối.  Vì vậy tôi phải đọc và suy nghĩ về những vấn đề mà người trước đã viết và tìm ra thêm những tài liệu và lý giải mới.  Những lý giải mới nầy có thể đúng, có thể chưa đúng, nhưng mình cứ mạnh dạn đưa ra, rồi độc giả, rồi thời gian sẽ trả lời.  Điều nào đúng sẽ còn lại, điều nào sai sẽ bị đào thải.
 
Tôi xin đơn cử vài ví dụ:  Ví dụ hình chim trên trống đồng Lạc Việt:  Những nhà nghiên cứu xưa người Pháp cũng như người Việt, đều cho rằng hình chim trên trống đồng Lạc Việt là chim “lạc”.  Các vị tìm giải thích chim lạc trong các bộ tự điển danh tiếng Trung Hoa…
 
Đến khi tôi nghiên cứu vấn đề nầy, tôi tự đặt một câu hỏi:  Nếu hình trên trống đồng là chim lạc, thì nước Việt phải có loại chim lạc, và trong các tự điển Việt Nam phải có chữ “lạc” hoặc “chim lạc”; hoặc trong thiên nhiên Việt Nam phải có loại chim nầy.  Tôi lục lạo các bộ tự điển Việt Nam, từ bộ tự điển đầu tiên của Alexandre de Rhodes cho đến các tự điển ngày nay, không có tự điển nào có con chim lạc cả.  Vậy chim lạc ở đâu?
 
Tôi đi tìm trong thiên nhiên, trong thực tế.  Tôi là người miền Nam Việt Nam.  Tôi đã đi từ Quảng Trị xuống tới Ca Mau.  Tôi đã từng đi dạy học ở cao nguyên Trung phần.  Đến đâu tôi cũng hỏi về chim lạc và ở đâu cũng không có câu trả lời về chim lạc.  Sau năm 1975, tuy chưa bao giờ ra Bắc Việt Nam, nghĩa là chưa bao giờ qua bên kia sông Bến Hải, nhưng do trí tò mò, học hỏi, gặp người nào từ ngoài Bắc vào, tôi cũng đều hỏi về chuyện địa phương của họ.  Tôi hỏi đủ chuyện tào lao thiên địa, và rồi tôi hỏi luôn con chim lạc có đẹp không?  Nhưng không có ai biết con chim lạc là chim gì cả.
 
Từ đó, tôi kết luận không có con chim lạc.  Con chim lạc giống như con rồng trong cổ tích, không có trong thực tế.  Vậy con chim trên trống đồng Lạc Việt là chim gì?  Tôi tìm các loài chim ở đồng quê Việt Nam thì tôi thấy loài chim thân thiết với nhà nông Việt Nam là con chim cò.  Ruộng lúa Việt Nam là ruộng lúa nước, có cá nhỏ, cua đồng tức con rạm, là mồi ngon cho chim cò.  Con cò có mặt khắp nước Việt Nam.  Khi chim cò bay, rất giống hình chim khắc trên trống đồng Lạc Việt.  Lông chim cò cũng giống như bộ lông trang trí của các chiến binh khắc hình trên trống đồng.  
 
Tôi nghĩ rằng các nhà nghiên cứu xưa phỏng đoán được, thì tại sao mình không thử phỏng đoán xem sao? Tôi phỏng đoán hình chim trên trống đồng Lạc Việt chính là chim cò.  Để xem thử qua thời gian, những nhà nghiên cứu sau nầy nhận xét thế nào về lý giải của tôi?  Thời gian sẽ trả lời.
 
Còn nhiều chuyện mới nữa.  Ví dụ theo những khám phá mới nhứt của các nhà khoa học thế giới thì lúa nước phát xuất từ vùng Hòa Bình, thuộc Bắc Việt.  Vậy người phát hiện và cày cấy lúa nước phải là người cổ Việt, chứ không thể là người Hoa theo như các sách trước đây đã viết.
 
Còn hình ảnh Lê Long Đĩnh trong các sách sử trước đây do người đảo chánh là Lý Công Uẩn cùng con cháu, bôi đen Lê Long Đĩnh trong suốt mấy trăm năm nhà Lý cai trị.  Tuy nhiên, cũng chính trong Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Sĩ Liên kể chuyện Lê Long Đĩnh đặt một trạm buôn bán ở Trung Hoa, rồi Lê Long Đĩnh đi dẹp loạn cho đến phút chót.  Vậy Lê Long Đĩnh đâu phải là ngọa triều.  Hình ảnh của ông bị nhà Lý bôi đen mà thôi.
 
Tôi còn nhấn mạnh rằng triều đại nhà Mạc là triều đại duy nhứt trong lịch sử Việt Nam không cầu viện Trung Hoa về đánh Đại Việt sau khi thua trận và mất ngôi, mà chịu lép vế khai thác Cao Bằng.  (Nhà Trần dầu đã oanh liệt chiến thắng quân Nguyên, nhưng con cháu cầu viện quân Minh đánh nhà Hồ.  Nhà Lê thì nổi tiếng với bà thái hậu, mẹ vua Lê Chiêu Thống.)  Về điểm nầy, phải khen nhà Mạc.  Thế là có người không ưa.  
 
Nói cho hết các chuyện nầy thì dài lắm, xin mời qua câu hỏi khác.
 
Câu hỏi 9:  Thưa anh, lịch sử là chuyện quá khứ của loài người.  Vậy khi soạn lại lịch sử, anh có gặp phản ứng gì không và đến từ đâu?  
 
Trả lời câu hỏi số 9:  Đương nhiên là có nhiều phản ứng mà anh Hồng Phúc.  Phản ứng từ nhiều phía.  Cho tôi miễn nói chuyện tôi được người ta khen.  Tôi chỉ xin nói chuyện người ta chê tôi.
 
Phía cộng sản thì không nói làm gì.  Tôi bị cộng sản chê từ hồi còn trong nước.  Khi cộng sản về thành, là tôi “mất dạy vô lương”. (nghỉ dạy và không có lương).  Lại còn bị cộng sản nghi ngờ, hỏi thăm sức khỏe dài dài.  
 
Về phía người Quốc Gia chúng ta, cũng lắm chuyện.  Ví dụ có người trách tại sao tôi khen Lê Long Đĩnh mà còn cho rằng thiền sư Vạn Hạnh và Lý Công Uẩn đảo chánh cướp ngôi.  Có người lại không bằng lòng vì cho rằng tôi viết không đúng về tổng thống Ngô Đình Diệm.  Lại có người bảo rằng tôi là người Quảng Nam mà lại cho rằng không có chuyện vua nhà Nguyễn phong tặng “Ngũ phụng tề phi”.  Rất nhiều chuyện thưa anh.  Những ai phê bình thì cứ phê bình, chê bai thì cứ chê bai.  Tôi chỉ xin quý vị đọc kỹ những điều tôi viết để phê bình, chứ đừng nghe kể qua kể lại, “tam sao thất bản”, rồi lớn tiếng phê bình.  
 
Câu hỏi 10:   Xin anh cho biết thái độ tiếp nhận phê bình của anh như thế nào?
 
Trả lời câu hỏi số 10:   Vâng, thưa anh, tôi phản ứng rất đơn giản.  Tôi nghĩ ai cũng có quyền có ý kiến.  Ai cũng có quyền phê phán.  Mình phải tôn trọng ý kiến của mọi người và phải lắng nghe để học hỏi mới tiến bộ.  Nếu người nhận xét, phê phán đàng hoàng, thì tôi trả lời để trao đổi, học hỏi.  
 
Ngoài ra, có khá nhiều người phê phán theo kiều đao to búa lớn, nhằm chứng tỏ sự thông thái của họ.  Hơn nữa, trong mỗi người có môt thiên kiến cố định về niềm tin, nhứt là tôn giáo và chính trị.  Mình viết không đúng ý họ là họ chê trách.  Mà chê trách không dựa trên tài liệu, chỉ dựa trên cảm tính.  Đôi khi chê trách bằng ngôn ngữ không lịch sự, mà lại sống sượng.  Bạn đọc nhận ra ngay.  Trong đá banh, FIFA có một khẩu hiệu rất đơn giản, nhưng rất thâm thúy.  Đó là chữ RESPECT.  
 
Vâng, phải tôn trọng lẫn nhau.  Tôn trọng nhau là tôn trọng chính mình  Tôi không trả lời những nhận xét phê bình bất lịch sự.  Làm thinh là khỏe nhứt.  Người ta nói hoài một lúc sẽ chán.  Hết nói.  Còn mình để thời giờ nghỉ ngơi, giải trí, đọc sách, học hỏi, hơn là bị lôi cuốn vào những tranh cãi vô bổ.
 
Câu hỏi 11:  Mời anh chia sẻ cảm tưởng buồn vui khi anh soạn bộ VSĐC.
 
Trả lời câu hỏi số 11:   Thưa anh Hồng Phúc, về chuyện buồn khi viết sử thì tôi rất buồn trước những trang sử đen tối của nước nhà, nhứt là trong giai đoạn hiện đại khi miền Nam sụp đổ năm 1975.  Vì tôi sống trong giai đoạn nầy.
 
Còn vui thì chỉ là những niềm vui nho nhỏ.  Ví dụ khi tìm ra được những tài liệu mới cần thiết cho các bài viết của mình.  Nhiều khi ngộ lắm.  Rất tình cờ.  Hoặc gặp những nhân chứng sống về giai đoạn vừa qua.  Người ta cho mình information.  Rồi mình truy tìm trong sách vở.
 
Vui là vì những câu hỏi của giới thanh niên, nhứt là thanh niên trong nước, chứng tỏ các em theo dõi bài viết của tôi và muốn tìm hiểu thêm về lịch sử.
 
Có một điều đáng mừng là khi tôi hoàn thành bộ sách VSĐC, thì  những nhà nghiên cứu ở trong nước cũng đã e-mail đặt mua, kể cả các chức sắc văn hóa CS cũng tìm đọc, nhờ người quen tìm mua.  Tôi biết việc nầy vì khi tôi xuất bản đến tập 5 thì những nhà nghiên cứu trong nước mới biết tin, chú ý và tìm mua, nhưng mấy tập đầu không còn ở các hiệu sách.  Họ phải nhờ người quen đến hỏi thẳng tôi.  Có cả du học sinh tìm đến tận nhà đặt mua sách tôi.  Đôi khi tôi cũng không còn, tôi phải gom lại ở các hiệu sách, rồi mới giao cho người ta.  
 
Tôi rất mừng là ít nhứt công việc mình làm cũng đạt được vài kết quả âm thầm nho nhỏ, mà mình tận mắt chứng kiến khi mình còn sống, dù đó không phải là tiền tài hay danh vọng gì cả.
     
Câu hỏi 12:  Thưa anh, cuộc phỏng vấn đã khá dài, sau đây xin hỏi anh câu cuối cùng.  Sau bộ VSĐC, anh có dự tính sẽ soạn thêm các sách sử khác không?
 
Trả lời câu hỏi 12:  Thưa anh Hồng Phúc, sau bộ sách VSĐC, tôi dự tính edit lại bộ sách nầy cho hoàn chỉnh hơn.  Bộ VSĐC quan trọng là tập đầu và tập cuối.  Tôi đã edit lại tập đầu và tái bản năm 2015.  Tôi hiện edit lại hai quyển chót, nhưng dùng tên mới là  Chiến tranh Việt Nam 1946-1954, từ chiến tranh Việt Minh Pháp đến chiến tranh ý thưc hệ Quốc-Cộng, và quyển Chiến tranh 1960-1975, chiến tranh xâm lược của Cộng Sản Việt Nam.
 
Sau hai quyển nầy, có thể tôi nghỉ vì già rồi, sức làm việc yếu hẳn, không còn sức thực hiện những công trình dài hơi nữa.  Nghỉ là vừa.  
 
Thưa anh Hồng Phúc, chúng ta chuyện trò cũng đã lâu, xin anh cho tạm chấm dứt ở đây cuộc nói chuyện hôm nay.  Xin cảm ơn anh Hồng Phúc đã phỏng vấn và xin cảm ơn quý vị thính giả đài Tiếng Nói Việt Nam đã theo dõi cuộc nói chuyện nầy.  Xin kính chào quý vị.
 
TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, 12-05-2018)
 
 © Tác giả gửi bài đến Ban biên tập.
© Diễn Đàn Người Dân ViệtNam
Đọc các bài liên quan của cùng tác giả tại đây
 

NGHE ĐÀI QUA ĐIỆN THOẠI:

1 + 605-475-8008; 563-999-3354; 720-721-4311

WEBSITE:  www.daiphatthanhvietnam.com

Chương trình Thế Giới Ngày Nay

do Hồng Phúc & Mai Ly phụ trách

Phát thanh hàng tuần vào ngày Thứ Bẩy, lúc 1:00 PM (CST)

 

Share

scroll back to top
 

TIN MỚI NHẤT