DIỄN ĐÀN NGƯỜI DÂN VIỆT NAM

XÂY DỰNG CÔNG BẰNG THỊNH VƯỢNG NHÂN BẢN

Nhân Mùa Đản Sinh Đức Thế Tôn, Tìm Về Phật Giáo Bình Thuận_Mường Giang .

E-mail Print

                                                                                                                                                                                                                                                                                                  Image result for Ngay Phật Đản

Ở con người nói chung, ai cũng muốn mơ mộng để quên thực tế, phủ nhận hiện tại mà hướng về tương lai. một thứ mơ mơ màng màng, nằm giữa cái có và cái không có hay chưa có, do thúc đẩy của những biểu hiện tôn giáo và quyền lực trần gian.

Lịch sử của đất Thuận Thành vốn đã mù mịt như gió cát bốn mùa, thì lịch sử của những gì liên hệ với đất và người Bình Thuận qua ba trăm năm, cũng không khác trên đại thể. Nói chung khi nghiên cứu những tín ngưỡng của bản địa, qua những lời đồn đại, sấm ký viện dẫn của thời này, thời nọ, để suy tôn hay hạ bệ thần thánh, chưa kể những người chết oan khiên, khuất lấp vì đất nước, xóm làng nhưng thân phận của ho, thì thật là não nề, vì lúc thì lên bàn thờ hay bị sỉ nhục là ngụy giặc. Sự có mặt của Phật giáo và Ðạo Thiên Chúa trên vùng biển mặn, đến nay cũng không ai biết chính xác dù ở đâu cũng thấy có đình chùa, dinh vạn rất cổ xưa, kể cả ba bốn cái nhà thờ Thiên Chúa tại Làng Lạc Ðạo, Kim Ngọc, Phan Rí, Tầm Hưng, xét về niên đại cũng trên vài ba trăm tuổi. Nói chung Phật giáo và Ðạo Thiên Chúa tại Bình Thuận, mới thật sự là hai kẻ đồng hành, vì đã cùng nhau san sẻ tất cả nổi bể dâu trầm thống suốt các giai đoạn lịch sử.

Cơn biến động chính trị của lịch sử VN từ bốn thế kỷ cận đại qua, nhất là thời kỳ XIX-XX, đã đưa đất nước vào một quỹ đạo thế giới hơn là dân tộc. Bởi những nhà lãnh đạo chính trị lẫn tôn giáo, quá vụng về khi tiên tri những khuynh hướng của VN, cho nên đã làm hỏng bét đại sự, khiến cho giờ chót, Hồ Chí Minh và đảng cọng sản đệ tam quốc tế, một thứ chính trị sặc mùi tôn giáo nửa nạc nửa mở, thời trước, đã bị những nhà tiên tri, khinh bỉ gọi đùa la ‘ hoa cứt lợn cắm bãi phân trâu ‘, lại đại công cao thành, chó nhẩy bàn độc vào giờ thứ 25, ngày 30-4-1975. Tất cả cũng vì lãnh tụ ba làng đi tìm kẻ không người có, trong lúc đó, lại bỏ quên tuyệt đại quần chúng đang ngóng chờ. Cuối cùng sự tuyệt vọng, ơ hờ đã khiến cho họ bị cuốn hút trong mật ngọt tuyên truyền của cọng sản, cuồng nhiệt chạy theo Việt Gian, Việt Minh, Việt Cộng làm giặc và chuốc lấy sự đau hận trùng hằng trong bao chục năm qua và không biết tơí bao giờ moí ngoi lên khỏi vũng bùn ô nhục của cái gọi là thiên đàng xã nghĩa.

Nhìn lại lịch sử VN, ta thấy tổ tiên ta đã bỏ lỡ nhiều cơ hội chiến thắng. Chẳng hạn như khi Bình Ðịnh Vương Lê Lợi trong mười năm kháng chiến, đã đánh đuổi được giặc Minh ra khỏi bờ cõi nhưng cũng từ đó đã không theo các thời đại Hậu Lý, nhà Trần dùng Ðạo Phật làm quốc giáo để an bang tế thế, mà lại chạy theo Trung Hoa, chọn Nho Giáo làm một thứ trung tâm quyền lực, để tri thiên mệnh. Từ năm 1884-1945, Ðạo Thiên Chúa từ phương tây vào thay thế Nho Giáo của nước Tàu, làm quốc giáo. Tình trạng trên vẫn không thay đổi suốt thời đệ nhất cộng hòa miền Nam (1955-1/1/1963) và sau đó trong khoảng thời gian 1964-1975, những nhà lãnh đạo Phật giáo VN cũng đem chính trị vào thay thế Phật giáo, cho nên tất cả sự lầm lẫn của mọi thời đại kể trên, khi gạt bỏ một tín ngưỡng lớn của dân tộc như Phật Giáo bên lề thế sự, làm cho đất nước mất chỗ tựa, tất cả đã góp phần hình thành một nước Việt Nam bị cọng sản quốc tế đô hộ tới bây giờ.

Xưa nay, trong quan điểm đối đầu giữa Phật giáo và các thế lực Nho giáo, Ðạo Thiên Chúa và Chủ Nghĩa Mác Xít, Phật giáo VN đã bị đẩy lùi về phía tiêu cực và tác dụng của nó chỉ là sự trì trệ như đã thường trực bao đời.

Nhưng dù bị bức bách thế nào chăng nửa, Phật Giáo cùng với Lão Giáo, trong dòng sử VN vẫn luôn là một nền tảng chung cho các khuynh hướng chính trị VN, nhất là từ khi Pháp chính thức đô hộ nước ta sau hiệp ước 1884. Nhiều phong trào Cần vương mang dấu ấn tín ngưỡng đậm nét khắp ba miền đất nước như Kỳ Ðồng, Bạch Xỉ và bàng bạc khắp đất Nam Kỳ thuộc Pháp, qua các giáo phái xuất phát từ Phật Môn như Phật Thầy Tây An của Dòng Bửu Sơn Kỳ Hương Chính Thống. Thế giới đại chiến khốc liệt lan tràn khắp nơi, gợi ý về ngày tận thế, về hội Long Hoa với Phật Di Lặc, đã là những cơ hội thuận chiều lịch sử để các giáo phái Cao Ðài cũng như Phật Giáo Hòa Hảo khởi nguồn phát triển, tạo một bước ngoặt khi giáo chủ thành nhà chính trị, đạo giáo xê dịch qua bước trần thế, không những đã nắm vững tinh thần tín đồ mà còn tạo được một sức mạnh cho đảng phái, dù về sau các giáo chủ đã đổi lấy bằng ngay chính sinh mệnh của mình như Ðức Huỳnh Phú Sổ.

Hơn hai ngàn năm về trước, khi phần đất Nam Việt của Triệu Ðà trong đó có nhóm Lạc Việt của Bách Việt, nhân cơ hội tàn tạ của nhà Ðường, đã đứng lên dành lại độc lập đã có từ thời các tổ Hùng Vương và dựng nên một nước Ðại Việt hùng mạnh ở phương Nam, tồn tại cho tới ngày nay. Trong núi vốn không có Phật mà Phật chính ở trong tâm ta , nếu tâm ta lắng lại thì trí huệ sẽ xuất hiện, đó chính là Phật, như lời của quốc sư Trúc Lâm-Phù Vân, thầy của vua Trần Thái Tông, người khai sáng nhà Trần 1225-1400 đã nói, hay ý nghĩa siêu việt trong bài kệ của quốc sư Vạn Hạnh, thầy của vua Lý Thai Tổ, người lập nhà Hậu Lý 1010-1225 :
:
‘ Thân như sấm nổ chớp lòa
Xuân hoa nở rộ, thu qua rụng rời
Sá chi suy thịnh việc đời
thịnh suy như hạt, sương rơi đầu cành ‘

Phải chăng đó chính là những lý do, khiến cho Phật giáo đã trở thành kẻ đồng hành và thường trực ở trong lòng con người VN trong suốt chiều dài của lịch sử, cùng chia sẽ niềm vui cũng như tuyệt vọng, hứng chịu tang thương chết chóc từ sau ngày 30-4-1975, khi giặc Hồ cưỡng chiếm được quê hương.

Phật giáo đã hòa tan vào máu thịt của dân tộc và trở thành một Ðạo Việt, đó là một chân lý nhưng có phải vì lầm lẫn để chính trị xen vào Ðạo Phật mà đạo đời không hòa hợp ? Ta biết từ sau tháng 9-1945, khi Bảo Ðại tuyên bố thoái vị, cũng là lúc nhà Nguyễn chấm dứt, làm cho các thần linh đất Việt lấn cấn vì không còn danh nghĩa để ngồi trên bàn thờ. Cũng may đa số thần thánh trong dòng tín ngưỡng dân gian VN đã có từ lâu, cho nên các Ngài cũng đã hòa nhập vào truyền thống nối kết với dân gian, trong một khoảng vô hình có trật tự, nên đã niú kéo được niềm tin và ngôi vị. Từ 1945-1954, Liên khu V bao gồm các tỉnh miền Trung từ Phú Yên tới Quảng Nam, khi chính quyền lọt vào tay Việt Minh-Việt Cộng, là khu vực thần linh nước Việt, tan rã và sụp đổ thật sự, khi hầu hết các đình, đền, miếu, chùa, vạn bị phá hủy để tiêu thổ kháng chiến theo lệnh của Hồ Chí Minh, một hình thức che đậy ý đồ ý thức hệ phát xít, vô thần, muốn tiêu hủy tất cả để đổi thay triệt để. Ðây không phải là sự xô bồ của luận cứ, cho là vì lẫn lộn trong bản chất và hiện tượng triết học của biện chứng pháp duy vật sử quan, mà buổi đầu đảng đã lầm lẩn. Thật sự là cố ý, vì những chứng liệu liên tục kéo dài mấy mươi năm qua, xác quyết cái tính chất mập mờ của cọng sản đệ tam quốc tế, luôn có hai mặt đảng và tín ngưỡng. Có như vậy mới tuyên truyền, ru ngủ và lôi kéo được nhiều người, kể cả những người có học thức cao, theo Hồ làm giặc và số này ngày nay đã trơ trẻn trét phấn tô mặt phong thánh cho Hồ, để được chính thống chểm chệ ngồi ngang hàng với Quốc Tổ Hùng Vương cùng với Phật Trời, trong một số đình chùa quốc doanh do đảng bỏ tiền xây dựng khắp nước, mà nguy nga nhất tại tỉnh Bình Dương.

Ðứng bên lề lịch sử, nhìn vào lịch sử bằng con mắt của một người dân thường, ta phải công nhận nhờ hậu quả ngày binh biến 1-11-1963 mà Phật giáo VN đã đạt được nhiều thành công đáng ca tụng. Sau năm 1964, Phật giáo đã có nhiều cơ sở vững chắc như Viện Hóa Ðạo, Ðại Học Vạn Hạnh, hệ thống trung tiểu học Bồ Ðề khắp VNCH với 112 trường ố80.000 học sinh, các chùa VN Quốc Tự, Vĩnh Nghiêm, Xá Lợi.. cũng như sư thành lập các khuông hội Phật giáo tỉnh, gia đình Phật tử...

Nhưng rồi nhũng chuyện xưa tích củ, những lời vàng ngọc của các thánh tăng rao dạy, những chữ bần tăng, bần ni yêu quý của Phật giáo đã biến mất, vào thời kỳ loạn tướng kiên tăng 1964-1967 khi các su-cha đua đòi chạy theo vật chất và quyền lực, dẫn đến sự chia rẽ hàng ngũ lãnh đạo Phật giáo, làm cho đạo pháp vừa mới loé ánh hào quang, thì đã tắt ngủm trong sự ngao ngán của muôn người, nhất là những Phật tử đang làm lính giữ nước và bảo vệ đạo pháp. Vậy mà lúc nào cũng đòi phải tách tôn giáo ra khỏi chính trị, thật là khôi hài. Xét cho cùng cũng là do Phật tại tâm, nhưng trong tâm đã không có Phật thì biết tìm Phật ở đâu, phương chi trong bất cứ mọi sinh hoạt nào, kể cả tín ngưỡng, sự phân biệt giữa chính trị và tôn giáo rất mù mờ, vì chính trị là đám đông, còn tôn giáo là sức mạnh. Làm cách nào để có sự hòa hợp giữa đám đông và sức mạnh mới là thành công.

Xã hội VN bao đời vẫn lấy nông nghiệp, xả thôn, thành hoàng làm gốc và đó chính là căn bản của thần quyền cũng là chỗ dựa vững chắc của vua quan thời quân chủ. Do hiểu thấu nguyên lý sinh tồn đó, mà các đời vua Ðại Việt từ nhà Ngô (939 sau TL), cho tói nhà Trần 1225-1400, đã trọng dụng các vị cao tăng Phật giáo, coi như là quốc sư giúp vua luận bàn việc nước. Hiểu thấu tai hại sự đồng hóa gián tiếp Bắc phương qua Nho giáo, mà người Việt đã hấp thụ và ảnh hưởng trong 1000 năm đô hộ, nên hai đời Lý-Trần đã hoàn thành một Ðạo Phật Việt tức Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử, từ ba hệ phái Phật giáo thế giới như Tỳ Ni Ða Lưu Chi, Võ Ngôn Thông và Thảo Ðường.

Từ đầu thế kỷ XV, Nho giáo được coi như là trung tâm quyền lực của nhà Hậu Lê , khiến cho Phật giáo cũng như Ðạo Lão, từ địa vị quốc giáo, bị triều đình quên lãng nên chỉ còn tồn tại trong giới bình dân ở thành thị cũng như miền thôn dã quê mùa.

Phật giáo đã ăn rể vào quốc dân Việt Nam suốt 2000 năm lịch sử, nên Phật tính đã là da thịt xương máu của con người, chẳng những là tín đồ Phật tử mà còn ngay trong người ngoại đạo, tạo thành một thứ bản sắc từ bi nhân ái đặc biệt, mà ai cũng nhận ra, ngoại trừ lũ vô thần cọng sản đệ tam quốc tế, đã công khai chối bỏ quốc tính của giống dòng, khi công khai xác nhận :’yêu nước là yêu nước xã hội chủ nghĩa của Mác-Lê-Mao-Hồ ‘.

Xưa nay ở đâu, thời nào cũng đều có loạn tướng kiêu tăng nhưng những thứ sâu bọ này, rồi ra cũng chỉ như đám lục bình trôi giạt trên sông, không đại diện cho ai hết cũng như không là gì đối với mấy chục triệu Phật tử và tăng già VN. Ngoài ra sự áp đặt tù gông cọng sản cùng những cái thứ quốc doanh tôn giáo này nọ, chỉ là một trong muôn ngàn pháp nạn, mà dân tộc Hồng Lạc đã từng hứng chịu trong dòng sử Việt, đâu có phải là chặng đường cuối cùng của Phật giáo. Sự tàn bạo của cường quyền Việt Cộng, đối với Phật giáo VN từ sau ngày 30-4-1975, đã là những ngọn hỏa sơn ngầm đang chờ phun lửa, thiêu rụi toàn bộ lâu đài của đảng cọng sản, được xây dựng trên đống xương vô định của dân tộc. Người VN ai cũng có cái tâm từ bi của Phật Bà Quan Âm, cái hồn nhân ái vị tha của Như Lai Phật Tổ nhưng không thiếu trong máu cái dũng liệt ngút trời của Ngô Quyền, Hưng Ðạo, Quang Trung, Nguyễn Thái Học.. cho nên chắc chắn pháp nạn sẽ đi qua và chúng ta lại hy vọng ngày Long Hoa khai hội, để ai nấy đều được sống với cái huệ tâm thuần ái thời Lý-Trần.

Ðây cũng là căn nguyên và đại thể của Phật giáo Bình Thuận suốt ba thế kỷ qua. Trong lịch sử tranh chấp quyền hành, kẻ thắng bao giờ cũng chỉ nói tốt và tự sơn son bôi phấn để làm đẹp cho chính gương mặt mình. Giản dị như lời phán của Cesar : ‘ tôi đã đền, đã thấy và đã trở về ‘.Phật gíáo là một tôn giáo lớn của dân tộc VN, có quá trình gần bằng chiều dài lập quốc của Ðại Việt, cho nên có đủ chính danh, chính thống, không cần phải lý thuyết hay biện minh. Tìm hiểu về gốc nguồn của Phật gíáo trên quê hương miền biển mặn cũng vậy, nên cũng không cần để ý tới những lúc quyền lực đẻ ra chính thống, đạo pháp, mà phải đi tìm lại buổi hoang sơ, khi người lưu dân Ðại Việt từ miền Ngũ Quảng, Thuận Hóa, tay gươm tay cuốc, hồn thơ, tâm Phật, đặt chân tới cái xứ hoang mạc, cát gió này.

-PHẬT GIÁO BÌNH THUẬN :

Qua các tài liệu lịch sử, cho biết vào giữa thế kỷ thứ VIII sau Tây Lịch, miền bắc Chiêm Thành có biến động nên đã dời về miền nam và xây dựng vương triều Panduranga tại vùng Khánh-Ninh và Bình Thuận ngày nay, kéo dài hơn một thế kỷ. Người Chàm vùng Ninh và Bình Thuận gọi những Tháp Chàm xây bằng gạch là Kalan, có nghĩa là đền thờ, nơi tế lễ các vị vua chúa như Kolan PôTâm ở Phan Rí hay Kalan Pô Rômê tại Phan Rang... Ðáng tiếc là hầu hết các Tháp Chàm còn tồn tại, đã mất hết các đồ thờ tự bên trong, nên rất khó khăn để các sử gia cũng như nhà biên khảo xác định rõ chức năng từng ngôi tháp, dù trên vách hay quẩn quanh còn lưu lại các hình vẽ và bia ký.

Cũng từ những chép ghi trên bia ký, ta biết thời đó song hành với nước Hoàn Vương ở phương bắc Chiêm Thành,còn có một triều đại khác đã xuất hiện ở nam phương là vương quốc Panduranga, mà các sử gia gọi là bá quyền, nổi lên như một trung tâm chính trị của cả nước. Về vương triều này, bia ký có ghi, kế vua Rudravarman III, là vua Prathivindravarman, sau này được các pháp sư coi như chúa tể cả hai miền. Tới triều đại vua Satyavarman, miền nam đã phải đương đầu với cuộc xâm lăng của người Java vào Panduranga năm 774. Tới năm 787 thời vua Indravarman, người Java lại tấn công Chiêm Thành nhiều lần. Vì Nam Dương lúc đó là trung tâm của Phật Giáo Ấn Ðộ, bao gồm ba thừa : Ðại, Tiểu và Kim Cương, cho nên Phật giáo cũng đã theo chân những người viễn chinh và thương buôn Java, ảnh hưởng từ Khánh Hòa vào tới Bình Thuận. Sau đó vương triều lại thiên đô về Ðồng Dương trong tỉnh Quảng Nam, gọi là Indrapura, từ giữa thế kỷ thứ IX tới cuối thế kỷ thứ X với tên nước là Chiêm Thành, theo Phật giáo, dù Bà La Môn vẫn còn. Ðiều này đủ để xác nhận được, là trong thời gian vương triều Panduranga tồn tại, đã có người Chàm sinh sống ở Bình Thuận theo Phật giáo, cho nên vào năm 1974 đã đào được nhiều tượng Phật bằng đồng của người Chàm tại Phước Thiện Xuân, Hải Long.

Từ năm 1693 khi thống suất Nguyễn Hữu Cảnh bình xong Thuận Trấn, thì Phật giáo cũng theo đoàn lưu dân tới chốn tạm dung. Rồi theo thời gian từ Ðình Làng thờ thần của làng xã, triều đình, đã phát triển thành một hệ thống Chùa thờ Phật có sư sãi trụ trì, do chính Giáo Hội đề cử. Theo Phật sử, Phật giáo Bình Thuận hầu như chịu ảnh hưởng từ Phật giáo Phú Yên qua các Tổ Bảo Tạng, Hữu Ðức, Hòa Thượng Thái Bình, Hưng Từ, Viên Quang, Tịnh Hạnh... và từ Biên Hoà-Gia Ðịnh có Tế Tín Chánh Trực, Liễu Thành, Liễu Ðoan... Ngoài ra còn có nhiều người từ Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi vào Bình Thuận hoằng dượng đạo pháp.

Về niên lịch đầu tiên Phật giáo chính thức phát triển, không thấy một tài liệu nào ghi chép nhưng chắc chắn, thi ngôi chùa Phật Quang tại Xóm Cát, làng Hưng Long là chùa Phật giáo đầu tiên trên đất Bình Thuận vào năm 1736 do Thiền Sư Ðạo Chơn Thường Trung từ Phú Yên vào trụ trì và khởi đầu công trình khắc bản gỗ bộ kinh Ðại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa, kéo dài tới 28 năm mới hoàn thành. Năm 1800, hòa thượng Ðạo Chơn Quang Huy từ Phú Yên vào trụ trì tại Chùa Liên Trì, hiện còn trên đường Khải Ðịnh, phường Ðức Nghĩa, Phan Thiết. Tổ Hủu Ðức xuất gia từ năm 1829, sau đó dựng các chùa Bửu Lâm tại Phước Thiện Xuân, Linh Sơn Trường Tự trên nuí Takou và đã viên tịch năm 1887 tại chùa này. Khoảng năm 1838-1839, thiền sư Hải Bình-Bảo Tạng từ Phú Yên vào khai dựng Chùa Linh Sơn Vĩ nh Hảo, chùa Cổ Thạch-Tuy Phong, chùa Long Hưng và chùa Châu Viên. Ngài đã viên tịch năm 1872 tại chùa này.Năm 1850, đại sư Như Thành Nhất Bổn đúc chuông chùa Long Quang-Phan Rí. Khoảng năm 1854-1855, hòa thượng Tăng Cang Liễu Thành từ chùa Từ Ân-Gia Ðịnh đến trùng tu chùa Liên Trì. Năm 1910 hòa thượng Thanh Tùng Huệ Ðạt trùng tu và đúc chuông chùa Bầu Trâm. Từ 1913-1924, hòa thượng Thanh Tâm-Huyền Thái Bình trụ trì chùa Linh Sơn Long Ðoàn và đã viên tịch tại đây năm 1924. Hòa thượng Trang Quảng Hưng-Phật Huệ từ Quảng Nam vào lập chùa Pháp Bảo năm 1930. Vào năm 1936, Ni trưởng Diệu Tịnh từ chùa Phi Lai-Châu Ðốc tới lập chùa Bình Quang Ni tự tại làng Ðảng Bình, Phan Thiết, chùa này được vua Bảo Ðại sắc tứ và từ đó là tổ đình của chư ni Bình Thuận. Chùa truyền qua các ni trưởng Huyền Tông, Huyền Học, Huyền Phương và năm 1999 là Như Tâm.

Năm 1938, Phật học hội được thành lập bởi các cư sĩ Ðoàn Tá, Ấm Cương, Thừa Tiêu, Thừa Châm... do Ðoàn Tá làm hội trưởng. Năm 1940, xây dựng chùa Tỉnh Hội Phật Học trên đường Ðồng Khánh, phường Lạc Ðạo, Phan Thiết. Năm 1944 phong trào chấn hưng Phật giáo nở rộ khắp nước cũng như tại Bình Thuận. Năm 1948 hội Tăng già Bình Thuận được thành lập, có trụ sở tại chùa Linh Thắng-Lạc Ðạo.Năm 1950 thành lập gia đình Phật tử Bình Thuận. Năm 1955 mở trường trung tiểu học tư thục Bồ Ðề tại góc đường Nguyễn Du-Triệu Quang Phục, Phan Thiết. Năm 1958 xây chùa Vạn Thiện tại ngã ba Trần Hưng Ðạo-Nguyễn Hoàng, phường Phú Trinh, là cơ sở của giáo hội tổ chức các khoá tu học Phật giáo. Cùng năm có hoà thượng Thích Giác An từ miền nam tới lập Hệ phái Khuất Sĩ Bình Thuận và dựng Tịnh Xá Ngọc Cát trên Ðộng Làng Thiềng, phường Ðức Nghĩa, Phan Thiết. Năm 1962, hòa thượng Thục Châu Vĩnh Thọ đúc tượng Tam Thánh gồm Phật Di Lặc, Phật Bà Quan Âm và Phật Thích Ca nhập niết bàn. Cùng năm, hòa thượng Thích Hưng Từ ở Phú Yên vào lập chùa Linh Sơn Tánh Linh-Bình Tuy. Năm 1964 thành lập ban đại diện Giáo Hội PGVNTN-Bình Thuận.

Ngày 20-4-1975 Việt Cộng cưỡng chiếm toàn tỉnh Bình Thuận và thị xã Phan Thiết, đồng thời cũng chiếm hết chùa và trường Bồ Ðề cùng các cơ sở của tỉnh hội Phật giáo Bình Thuận.

Ngày 29-12-1981 giải tán ban đại diện giáo hội Phật Giáo VNTN tại Bình Thuận, để lập Phật giáo quốc doanh Thuận Hải, bao gồm ba tỉnh Bình Thuận-Bình Tuy và Ninh Thuận.

Tháng 4-1992, bỏ Thuận Hải và lập lại hai Tỉnh Ninh Thuận cùng Bình Thuận-Bình Tuy, Phật Giáo Bìình Thuận quốc doanh cũng phân hai cho tới ngày nay.

Từ năm 1991, sau khi thành trì cọng sản đệ tam quốc tế tại Liên Xô, Ðông Âu và nhiều nước trên thế giới sụp đổ, Việt Cộng vội vàng mở khẩu, trải thảm đỏ đón Mỹ và tư bản trắng, đỏ cùng Tàu Cộng... vào đầu tư kiếm tiền nuôi miệng và nuôi đảng. Người Việt tị nạn cọng sản gốc Bình Thuận, từ mọi nơi trên thế giói nhưng đông nhất là tại Hoa Kỳ, ào ạt gửi tiền về xây dựng và trùng tu lại những nơi chốn tôn nghiêm, mà Việt Gian-Việt Cộng Bình Thuận đã phá hủy khi chúng từ rừng vào thành, thậm chí còn lấy một vài chốn tôn nghiêm như Làng Ðảng Bình, Vạn Hiệp Hưng... làm nhà tạm trú cho cán bộ và lò sát sinh mổ thịt gia súc. Ðồng tiền của Việt kiều hải ngoại cùng viện trợ nhân đạo của thế giới, một phần lớn lọt vào áo bốn túi trong bộ đại cán hay chiếc xắc cốt kè vai của cán ta, nhưng vẫn còn tô trét được bộ mặt son phấn của phố thị và chùa chiền, đình làng, miếu vạn. Ngoài ra để cho mọi người quên những phiền lụy chết mòn người, vì đói ăn và đói tự do đời sống, đảng thả giàn cho tất cả đi chùa, mở hội, tụng kinh, cúng Phật nhưng phải tuân theo lệnh các sư sãi xếp, thuộc Phật giáo quốc doanh, nếu không thì có tự thiêu cũng bị bỏ tù và phạt người thân tiền chết vì ngu. Chưa hết, để đưa Phật giáo trở lại thời kỳ đứng bên lề vỗ tay coi hát như trong quá khứ, mà thực dân Pháp và bọn quan lại bù nhìn của triều đình Huế đã làm, Việt Cộng nửa nhắm nửa mở, hô hào dân chúng BT-PT trở lại con đường đồng bóng, chầu văn và làm bạn với người cõi âm.

Sống có nhà, thác có mồ, người Phan Thiết muôn đời là vậy nhưng trong hoàn cảnh đói hiện nay, cơm chưa chắc đã no bụng, vậy mà còn phải lo vàng mã, gởi xuống cõi âm cho người thân, nhiều thứ ngó mà nực cười. Ngày nay bước vào phía tây chợ Phan Thiết, giang sơn bán vàng mã và nhang đèn cho người cõi âm, gồm mười mấy gian hàng và sạp, một điều không bao giờ có tại các nơi khác. Hàng mã gửi xuống cõi âm của người Bình Thuận trong thiên đàng xã nghĩa rất văn minh, tiền tiến, mùa nào thứ đó, đủ thủ tục cúng kiếng từ trả lễ làm ăn, cho tới chuyện làm tuần 49,100 ngày hay mãn tang đối với người chết. Hàng có đủ từ nhà trệt, nhà lầu, áo sơ mi, veston. Riêng long bào chỉ được lệnh bán cho cán quan hay bộ đội nhớn và muốn gửi xuống âm ty, phải có cốt đồng ở am chuyển mới được. Ngoài ra người sống còn phải sắm vòng vàng, nữ trang và nhất là phải gửi thật nhiều tiền Hồ giấy xuống cho người cõi âm, để có đủ chất lượng, của cải... mà lo lót cho quan ma Việt Cộng ở dưới này, cũng tham nhũng và ăn hối lộ kinh khiếp, không thua gì lúc còn tại chức nơi dương gian. Ðược như vậy, ma dân mới mong sớm có hộ chiếu tốt đi đầu thai làm người trở lại, tại các nước không phải là xã nghĩa thiên đàng còn sót lại hiện nay như Tàu cộng, Việt Cộng, Hàn Cộng và Cu Ba.

Người dân làm biển xưa nay vốn mê tín dị đoan và thích chơi nổi, dù thực tế hầu hết đều vay nợ của hàm hộ và đầu nậu,ăn trươc trả sau bằng mồ hội máu lệ trên sóng cuốn, mưa gào. Nhưng bất cần khi được làm thì làm tới, cho nên không mấy ai tiếc tiền bạc, dù đó thứ tiền đổi bằng máu của chính mình hay tiền mồ hôi của thân nhân từ nưóc ngoài, chắt chiu gửi về. Họ làm cho bằng được những món thời trang như xe Dream, Xế hộp, Suzuki, Altila, có giá gần 5 đô la/1 chiếc. Lại có cả điện thoại di động hiệu Ô Kìa. Có nhiều người lắm tiền, đặt cả một toà lâu đài ba bốn mê (tầng), trong đó có đủ bàn ghế, tủ lạnh, TV màu có cắm ăng ten chảo. Bàn thờ trong nhà phải có lư đồng và còn thêm người ở và vài con chó giữ nhà. Nghề làm vàng mã giờ nổi lên như Cồn Cỏ, Cồn Chà, cho nên nhiều người có nghề nghiệp vững vàng như thợ đóng giày, thợ may, cũng bỏ để làm giày làm áo cho người cõi âm.

Trong khi nhân loại đã bỏ chị Hằng đi tìm hỏa tinh, thì người Bình Thuận cũng chán cõi đời để tìm sống với người cõi âm trong mộng. Nghĩ cho cùng thêm tủi xót, thì ra cái gì ở trên đời này cũng đều là giấy, có có không không nhưng muốn có phải dùng sinh mạng hay tiền thật để mà đổi và chúng ta đã đổi nhưng có nắm được món gì đâu trong lúc này ?
-/-

Từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 5-2013

Mường Giang

Đọc các bài liên quan của cùng tác giả tại đây.

Share

scroll back to top
 

TIN MỚI NHẤT