DIỄN ĐÀN NGƯỜI DÂN VIỆT NAM

XÂY DỰNG CÔNG BẰNG THỊNH VƯỢNG NHÂN BẢN

Bốn Mươi Ba Năm Vẫn Nhớ Sài Gòn, Dù Đã Bị Mất Tên Từ Trưa 30-4-1975_Mường Giang .

E-mail Print

                                                                         Image result for Saigon truoc nam 1975

   Ngày 3-9-1945, Nhật đầu hang Hoa Kỳ và Đồng Minh vô điều kiện. Thừa dịp chính quyền Quốc Gia VN lúc đó đang bị bỏ ngỏ vì sự sụp đổ của Chính phủ Trần Trọng Kim, cùng sự thoái vị bất ngờ của Hoàng Đế Bảo Đại, nên cán bộ CS đệ tam quốc tế núp bóng trong Mặt trận Việt Minh (VM), sách động dân chúng nổi dậy cướp chính quyền. Cùng lúc thực dân Phap cũng theo chân quân Anh-Ấn, tái chiếm Sài Gòn dễ dàng, nhờ sự góp công của cái gọi là “ Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến “, lúc đó do Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Trấn, Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Tạo chỉ huy. Bọn chúng chỉ lo thanh toán, ruồng bắt thủ tiêu, chỉ diểm sát hại các thành phần đối lập, các lãnh tụ đảng phái quốc gia, trong số này có Đức Huỳnh Phú Sổ, giáo chủ Phật Giáo Hòa Hảo. Chúng cũng không tha các cán bộ cọng sản đệ tứ. Hành động trên đã làm cho tiềm lực kháng chiến chống giặc Pháp tại Sài Gòn và Nam Kỳ bị chia rẽ, yếu kém.

Mậu Thân 1968, lợi dụng lòng nhân từ, tình đồng bào và lệnh hưu chiến vào ngày Tết Nguyên Đán thiêng liêng nhất của dân tộc, Hồ Chí Minh ra lệnh cho bộ đội miền Bắc, tổng tấn công vào lãnh thổ VNCH. Thân 1968. Thủ đô Miền Nam, bao gồm Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định, bị CSBV tàn phá 2 lần, đợt, lần đầu vào những ngày Tết và lần 2 trong tháng 5-1968. Ngoài sự thiệt hại vật chất, người chết, nhà cửa đồng bào bị thiêu hũy, trong đó có nhiều cơ sở tôn giáo, bị giặc chiếm đóng, đặt các loại sung cộng đồng để tấn công đồng bào và QLVNCH, nền đã bị bom đạn của cả hai phía tàn phá, cùng với nhiều khu vực sinh sống làm ăn của người dân tại đô thành.

Nhưng cuối cùng nhờ sự hy sinh xương máu của người lính miền Nam, nên chính phủ VNCH vẫn đứng vững tới trưa ngày 30-4-1975 mới chịu sụp đổ, vì “đồng minh Mỹ đã tháo chạy “khỏi Sài Gòn. Từ đó “ Hòn Ngọc Viễn Đông “ trân quý của thế giới tự do đã trở thành “hang cáo”, khi đưọc vinh dự mang tên “bác hồ tặc”, vào lúc10 giờ 30 trưa ngày 30-4-1975 sau lệnh đầu hang CS Bắc Việt, của cá nhân TT Dương Văn Minh và phe nhóm cầm quyền lúc đó.

Ngày 20-12-1976, Hà Nội chính thức dẹp bỏ chính phủ lâm thời miền nam, lập nước “ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa VN “, gồm hai miền Nam-Bắc. Thủ đồ cả nước là Hà Nội, năm đó có 800.000 dân kể cả ngoại ô. Còn Sài Gòn, thủ đô của Miền Nam, vùng đất thiêng của dân tộc, được tạo dựng bằng máu lệ xương thịt của tiền nhân, qua bao nhiêu thế hệ kể cả quân dân VNCH trong 20 năm (1955-1975) , bị cọng sản quốc tế cưởng doạt, đổi tên, giá trị chỉ là một thành phố địa phương như những thành phố lơn trong nước Hải Phòng, Vinh, Huế, Đà Nẳng, Cần Thơ.. dù Sài Gòn năm đó, có dân số đông nhất nước, là 1.860.000, nếu cộng thêm vùng ngoại ô, gồm 6 huyện Bình Chánh, Thủ Đức, Hóc Môn, Củ Chi, Nhà Bè và Duyên Hải, tổng cộng là 2.680.000 người.

Trong những ngày máu lửa cuối tháng 4-1975, nhiều người uất hận đau khổ phải bỏ nước ra đi trong tuyệt vọng. Lúc đó Họ tin chắc rằng cả đời mình sẽ chẳng bao giờ được trở về quê hương, trong đó có Sài Gòn. Bởi vậy Nguyễn Đính Toàn đã viết “ Sài Gòn ơi ta đã mất người như người đã mất tên “. .

Những ngày còn sống trong nước, tình cờ nghe ai hát lén, bài hát đầu tiên từ hải ngoại vọng về, khiến ai cũng phải khóc . Đó là bài “ Vĩnh Biệt Sài Gòn “ của Nam Lộc. Thiên hạ chưa kịp khô hết nước mắt, thì Việt Dũng lại làm cho người người thét lên thành tiếng, khi anh viết “ Một Chút Quà Cho Quê Hương “..

“.. Em gửi về cho anh dăm bao thuốc lá
anh đốt cuộc đời mòn trên ngón tay
gởi về cho mẹ dăm chiếc kim may
mẹ may hộ con quê hương quá đọa đày
con gởi cho cha một manh áo trắng
cha mặc một lần khi ra pháp trường phơi thây .. “

Những lời ca thắm thiết của một thời, nghe hoài vẫn thấy đứt ruột và càng thêm thương nhớ Sài Gòn

1-SÀI GÒN NHỮNG NGÀY ĐẦU MẤT TÊN :

                                                                                                                                                                                                                                                                                                               Image result for ngay 30/4/75

Vài giờ, sau khi chiếc trực thăng cuối cùng chở toán quân của Thiếu tá Thủy Quân Lục Chiến Mỹ Jim Kean, rời nóc bằng của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Miền Nam VN, để bay ra biển Đông, lên hạm về nước, trong “ danh dự “ . Cũng là lúc bộ đội Bắc Việt vào Sài Gòn bỏ ngỏ, qua lệnh đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh. Thành phó Sài Gòn, thủ đô văn hiến của dân tộc Việt cũng mất tên từ giờ phút đó tới ngày nay. Cái bi hài của vở kịch “ nước mắt trước cơn mưa “, là lúc mà chính phủ hai ngày của VNCH đang hồ hởi “ hòa hợp hòa giải với giặc “, để chờ chim bồ câu trắng hòa bình từ thế giớo vô minh cực lạc hiện ra, thì cũng là giờ G ngày N của cọng sản Hà Nội đã điểm.

Đây cũng là thời khắc mà tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Q.Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH, nhân danh cá nhân TT Minh, ra lệnh cho các Đơn Vị Miền Nam đang phòng thủ quanh Sài Gòn, phải cố giữ vững vị trí chiến đấu, chờ sáng để nhận được phép lạ từ trên trời rớt xuống. Lúc đó, đồng hồ chỉ đúng 12 giờ khuya đêm 29 rạng sáng ngày 30-4-1975. Đây là giờ qui định của Bộ Tư Lệnh Miền do Lê Đức Thọ,Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng, Trần văn Trà chỉ huy.. ban lệnh cho B3 hợp đồng, với tất cả các lộ quân từ năm hướng, đồng loạt tấn công vào nội thành thủ đô. Đó cũng là thời gian lộ mặt của các đội Biệt Động, Đặc công.. từ các nơi nằm vùng, nổi dậy bắt liên lạc với các cánh quân bên ngoài. Đó là giờ qui định cho tất cả cán bộ đảng, cán bộ chính trị nằm trong hàng ngũ VNCH, lột mặt nạ cầm đầu sư đoàn 304 quàng khăn đỏ, đang có mặt khắp thôn làng hẻm phố, sẵn sàng tiếp thu chiến lợi phẩm và còng bắt tù binh, nếu cần hạ sát tại chổ..

Cũng từ đó lịch sử dân tộc được lật sang trang, chấm dứt một cuộc chiến vô luân nhất tại VN, do cọng sản quốc tế dàn dựng từ đầu đến cuối, với mục đích tạo cảnh chiến tranh, để đổi đời, nắm quyền, bán nước bán dân, do một thiểu số cùng đinh cực ác trong xã hội xướng xuất.

Cho nên thành phố Sài Gòn, một địa danh được các vị chúa Nguyễn và người dân Đại Việt tạo dựng bằng mồ hôi máu mắt, từ ba trăm năm trước, cũng bị mất tên và được gán vào danh xưng Hồ Chí Minh, như những thành phố tại Nga Sô Viết, trong thời kỳ cách mạng tháng mười năm 1917. Cũng nhờ “ cách mạng, giải phóng” nên từ đó tới nay, đồng bào cả nước, trước sau rủ nhau xuống hố xã nghĩa, để tìm thiên đàng Mác-Lê-Mao-Hồ, trong vũng bùn duy vật biện chứng pháp, mà gần hết nhân loại đã ném vào cát bụi, từ những năm đầu thập niên cuối thế kỷ XX, khi Liên Xô, Đông Đức, Đông Âu tan hàng, trước chủ nghĩa tự do, dân chủ, mà không cần phải đốt rụi Trường Sơn, giết hại hằng triệu triệu người Việt của hai miền.

Một trăm hai mươi lăm nhà báo da trắng, da màu đủ loại nhưng hầu hết đều sùng bái CSBV như thần thánh, trong suốt cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai (1960-1975), đều có mặt vào những ngày đầu Sài Gòn bị mất tên. Sau ngày bị chính quyền mới trục xuất khỏi VN. Trừ bọn nhà báo cánh tả bất lương Mỹ, vẫn ngậm miệng ăn tiền để tiếp tục loan tin bừa bãi bôi bác VNCH. Hầu hết đều viết “ Quang cảnh Sài Gòn ngày 1-5-1975, cũng vẫn như mọi ngày. Nếu có khác biệt, đó là sự hiện diện của những bộ đội miền bắc, với quân phục may bằng vải kaki nội hóa màu xanh lá cây, đầu đội cối có gắn sao, chân mang dép râu làm bằng vỏ xe phế thải. Tất cả ngơ ngơ ngáo ngáo như người cõi trên, trước cái cảnh trang đài sang giàu lầu cao phố đẹp của Sài Gòn, hòn ngọc Viễn Đông, không giống với luận điệu tuyên truyền của đảng .. là “ dân nguỵ” bị Mỹ-Thiệu kềm kệp dã man, nên nghèo mạt rệp, rách đói đến nỗi, ngay cả trí thức, nhà báo.. cũng phải đi ăn mày.. “

Tóm lại, Sài Gòn ngày đó như mọi ngày, chẳng thấy ai tiếp đón ai, cũng không có cảnh biểu tình đồng khởi hoan hô mà đảng hằng mong đợi. Người Sài Gòn đã dửng dưng trước thời cuộc, như chưa hề biết là đã đổi đời.

Củng hôm đó, trên đại lộ Thống Nhất dẫn vào Trung tâm quyền lực nhất của Nam VN. Đó là Dinh Độc Lập, mà mới vài giờ trước đây, chính khứa quan quyền đủ loại ra vào tấp nập để xin quan mua chức. Nay quang cảnh vắng hoe, kể cả người lính gác cổng cũng cao bay xa chạy, đang được bộ đội Bắc Việt, tùng thiết trên mấy chiếc T54 của Liên Xô viện trợ, tới tiếp thu một căn cứ quân sự bỏ ngỏ, không phòng thủ.

Một vài chục tên Việt gian thời cơ, trở cờ, cánh tay mang băng đỏ, tay khác cầm cờ máu, ngược xuôi xuôi ngược hò hét lập công. Nhưng mùa xuân có trăm hoa đua nở, có vạn vật hài hoà.. cho nên với một lá cờ máu thì làm sao dựng nổi một mùa xuạn ? Văn Tiến Dũng, Bùi Tín quen tuyên truyền nên đã loạn ngôn cuồng bợ, viết sai các dữ kiện lịch sử trong ngày “ Sài Gòn bỏ ngỏ tháng 4-1975 “, từ lúc Dương Văn Minh phát tiếng trong đài, ra lệnh QLVNCH, phải buông súng đầu hàng quân Bắc Việt , qua các tác phẩm mang tên “ Mùa Xuân Đại Thắng, Ánh Sáng của lịch sử ..”

Hôm đó phường phố Sài Gòn thật sự vắng hoe, cũng không có cảnh xuống đường với biển người rừng cờ như Hà Nội và đám Việt Gian Miền Nam mong đợi, để nhờ bọn ký giả phương tây và đám bồi bút bất lương cánh tả Mỹ thân cộng, quay phim chụp ảnh, tuyên truyền với thế giới bên ngoài rằng là “ cách mạng giải phóng “ đã thành công.. Tiếc thay hôm đó chỉ có một vài kẻ đa sự, tình cờ hay bị bắt buộc, bặm môi dừng lại bên đường, để trố mắt nhìn bộ đội miền bắc và tăng pháo do Nga-Tàu viện trợ, mà mới hôm qua đọc trên các báo chí đối lập Sài Gòn, nói là quân Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, do anh Tho, chị Bình, chị Định.. chỉ huy để chống lại chính phủ VNCH tham nhũng, gian ác, đàn áp tôn giáo, ngăn cấm tự do..

Chỉ có đám dân chiến nạn từ miền Trung, di tản theo lính vào Sài Gòn, giờ bơ vơ đói rách, bồng bế nhau hồi cư theo lệnh của chủ mới. Chỉ có những quân, công, cán , cảnh Miền Nam tan hàng rã ngủ, biết thân phận mình, rủ nhau tới các địa điểm trình diện. Sau rốt là đại đa số dân nghèo cưc, không có phương tiện hay chẳng bao giờ mơ ước xuất ngoại, nên đành ở lại với cảnh tranh tối tranh sáng, kéo tới các kho đụn, nhà giàu, sở Mỹ cùng dinh thự đồ sộ của các quan tướng.. đã bỏ chạy, để hôi của kiếm ăn. Sài Gòn mặt thật của những phút giờ đổi đời là thế đấy. Hiện có nhiều nhân chứng hôm đó, chắc là còn sống, tuy tuổi đã cao nhưng không mất trí nhớ, đang ở khắp các nẻo đường hải ngoại, thì ai dám bẻ cong ngòi bút, lếu láo vẽ rắn thêm chân, đem thúng úp voi, dấu đầu lòi đuôi cho được ?

2- SÀI GÒN TRƯỚC NGÀY 1-5-1975 :                                                                           

                                               Image result for Saigon hon ngoc vien dông                                                                                                                              

Sài Gòn khởi thủy chỉ là một làng đánh cá nhỏ của người Miên, nằm ở vị trí giao lưu của Rạch Bến Nghé-Sông Sài Gòn và trở nên quan trọng, sau khi được chọn làm thủ đô miệt rừng của Phó vương Miên, cai quản miền Thủy Chân Lạp, nên mới được gọi là Prey Nokor. Trong lúc đó hầu hết lưu dân Việt đầu tiên, tới khẩn hoang lập ấp trên đất Miên, đều tập trung ở khu vực đông bắc, vùng Mõ Xùy-Đồng Nai, cách Sài Gòn chừng 30 km.

Nhờ công lao của Hoàng Hậu Ngọc Vạn (con gái của Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên), nên triều đình Chân Lạp đã cho phép người Việt vào đất Miên lâp nghiệp một cách dễ dàng. Năm 1698 Preykor đổi thành Sài Côn, được mô tả là rộn rịp trù phú. Nhưng năm sau (1699) bị vua Chân Lạp là Nặc Thu, ra lệnh đốt phá nhà cửa và tàn sát (cáp Duồng) lưu dân Việt tại đây. Trước tình cảnh nguy ngập của đồng bào, nên Chúa Nguyễn Phúc Chu, đã phái Thống Suất Nguyễn Hửu Cảnh, đem quân hai Dinh Bình Khang-Bình Thuận vào Nam, hợp với hai cựu tướng nhà Minh là Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch, lúc đó đang cùng 3000 binh sĩ dưới quyền, được Chúa Nguyễn, cho khai phá vùng Đông Phố, Lộc Dã, Mỹ Tho.., để lập các làng định cư Minh Hương.

Tất cả cùng nhau bình định Chân Lạp, đánh đưổi Nặc Thu chạy về Nam Vang. Sau khi tình hình khắp vùng đã ổn định, Nguyễn Hữu Cảnh trả lại đất Lục Chân Lạp cho vua Miên, rút quân về nhưng trên đường lui quân, thì nhuốm bệnh và mất tại Rạch Gầm (Định Tường), vào ngày mồng 9 tháng 5 năm Canh Thìn (1700), lúc đó chỉ mới 51 tuổi.

Được tin buồn trên, cả nước, từ triều đình xuống tới dân chúng, ai cũng thương tiếc một đấng anh hùng cái thế, có công lao rất lớn đối với đất nước và dân tộc Việt Nam., trên đường mở mang bờ cõi về phương Nam. Vì vậy gần như khắp nơi ở Đàng Trong, nhất là Nam Phần, nơi nào cũng có đền thờ Nguyễn Hửu Cảnh, dù theo tài liệu, thì Ông được chôn ở Biên Hòa, Ông thuộc dòng dõi của Nguyễn Bậc (Đời nhà Đinh), Nguyễn Trãi (Hậu Lê) . Nguyễn Hửu Bài (Nhà Nguyễn) cũng là con cháu của Ông. Người Chân Lạp cũng lập đền thờ ông tại Nam Vang,, vì kính phuc đức độ nhân từ của một tướng lãnh VN..

Theo Trịnh Hoài Đức, từ năm 1698 trở đi, Nam Hà đã thiết lập được chính quyền tại Sài Gòn, dựa theo qui chế của nhà Hậu Lê, vì lúc đó các Chúa Nguyễn tuy đánh nhau với Họ Trinh nhưng vẫn còn thần phục Vua Lê. Mãi tới năm 1744, Chúa Nguyễn Phúc Khoát mới xưng vương hiệu, dời phủ chúa về kinh thành Phú Xuân (Huế ), đúc ấn tín và chia bờ cõi Đàng Trong, từ Nam Bố Chính vào tới Hà Tiên, thành 12 dinh, 1 trấn, đặt Huyện Tân Bình (Gia Định) làm Phiên trấn dinh.. Sau khi Thống Suất Kinh Lược Sứ Nguyễn Hửu Cảnh mất, các quan võ cao cấp nhất thời ấy, lần lượt thay thế như Trương Phúc Vĩnh (1731), giữ chức Điều Khiển. Năm 1753 quan Ký lục Bố Chính Dinh là Nguyễn Cư Trinh, giữ chức Tham mưu, chỉ huy 5 Dinh Bình Thuận, Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ. Đồng thời kiêm Kinh Lược Sứ , cai trị luôn đất Lục Chân Lạp.

Năm 1772 Chúa Nguyễn Phúc Thuần cử Nguyễn Cửu Đàm, con Nguyễn Cửu Vạn làm Điều Khiển Sài Gòn, kiêm Thống Suất các Dinh . Ông là người đầu tiên cho đắp lủy đất, bao quanh các đồn dinh, chạy dọc theo Rạch Thị Nghè, sông Sài Gòn để ngăn ngừa các cuộc tấn công của người Miên. Năm 1776 bị quân Trịnh từ Đàng Ngoài tấn công, Chúa Nguyễn Phúc Thuần cùng hoàng gia, bỏ Phú Xuân, chạy vào Sài Gòn nhưng năm sau (1777), lại bị Nguyễn Lữ (Tây Sơn) tấn công, nên Chúa Nguyễn phải chạy về Dinh Trấn Biên. Từ đó, trong suốt 10 năm (1777-1787), Sài Gòn trở thành bãi chiến trường giữa hai phe Chúa Nguyễn và Nhà Tây Sơn. Cuối cùng vào tháng 8-1788, Chúa Nguyễn Ánh ( cháu Nguyễn Phúc Thuần bị Tây Sơn giết), mới chiếm lại được Sài Gòn.

Năm 1802 Vua Gia Long đánh bại Nhà Tây Sơn và thống nhất đất nước từ Bắc vào Nam, đóng đô tại kinh thành Huế thuộc tỉnh Quảng Thuận (Thừa Thiên) . Sài Gòn và toàn cõi Nam Phần, được giao cho quan Tổng Trấn Lê Văn Duyệt, là một trong những tướng lãnh tài ba, đạo đức của Nhà Nguyễn. Vùng đất cuối cùng của miền Thủy Chân Lạp, được sáp nhập vào lãnh thổ của Đại Nam, năm 1840 là Sóc Trăng, kết thúc cuộc Nam tiến của người Việt, từ Quảng Bình vào tới Hà Tiên, kéo dài hơn 800 năm.

Năm 1858 thực dân Pháp bắt đầu xâm lăng VN, chiếm Sài Gòn lúc đó, theo tài liệu của một người Pháp tên Barrière viết trong ‘ Histoire de l’expédition en Cochinchine en 1861 ‘, thì đây không phải là một thành phố, mà chỉ là các làng mạc rãi rác, trên địa điểm của Sài Gòn ngày nay. Riêng lưu dân Trung Hoa đầu tiên tới lập nghiệp tại Biên Hòa từ năm 1860 nhưng thành phố này đã bị quân Tây Sơn tàn phá năm 1778. Do đó mọi người phải chạy về Rạch Bến Nghé lánh nạn và xây dựng ở đây thành phố Chợ Lớn.

Khi Lê Văn Duyệt làm Tổng Trấn Gia Định Thành, đã chỉnh trang lại Chợ Lớn, thiết lập giang cảng, trải đá dọc theo Rạch Bến Nghé và cho xây cất nhiều kho hàng ở cả hai bên bờ . Ngoài ra còn cho đào nhiều kênh, biến các vùng đất thấp trũng nước thành ruộng lúa. Hàng hóa và ghe thuyền khắp nơi, nhờ có Rạch Bến Nghé (Trung Hoa) và kênh đào nên ra vào Chợ Lớn tấp nập. Tính tới năm 1861, Chợ Lớn có 40.000 dân và 500 nhà lợp ngói, ban đêm thành phố được soi sáng bởi đèn dầu phộng.

Lúc đó Sài Gòn chia thành hai khu vực riêng biệt biệt : Người Việt và một số ít người Hoa sống ở Sài Gòn. Còn Chợ Lớn là thành phố của người Hoa, ngăn cách nhau bởi một nghĩa địa lớn. Đề đốc Le Page (1859) và Bonnard (1861) là những người có công, tiếp nối công trình dang dở của Tổng Trấn Lê Văn Duyệt, trong việc chỉnh trang, xây dựng và mở rộng Sài Gòn-Chợ Lớn thành Hòn Ngọc Viễn Đông. Từ năm 1954-30/4/1975, Sài Gòn-Chợ Lớn nhập chung thành một và là thủ đô của VNCH. Nhưng Chợ Lớn vẫn là trung tâm thương-công nghiêp số 1 của Miền Nam, giữ vai trò nhập-xuất cảng mọi sản phẩm chế biến, kể cả lúa gạo của đồng bằng sông Cửu Long. Trong lúc đó Sài Gòn là một thương cảng, thành phố Âu hóa với nhiều cao ốc, trường học, gian hàng buôn bán và là trung tâm hành chánh của Chính Phủ.

- Sài Gòn thời Pháp thuộc (1861-1954):

                                                                                                                                                                                                                                                                                                         Image result for Saigon thoi Phap Thuoc 1861-1954

Khi thực dân Pháp xâm lăng Nam Kỳ, chiếm Sài Gòn đã có ý đồ coi vùng đất này như là lãnh thổ của chính quốc. Vì vậy thành phố đã được chỉnh trang và xây dựng nhanh chóng, để đáp ứng với tình hình chính trị và quân sự lúc đó.. Trước đây, thành cổ Sài Gòn và Chợ Lớn thời nhà Nguyễn được bao bọc bởi hai con rạch Tàu Hủ, Thị Nghè và sông Sài Gòn,nắm ưu thế về quân sự lẫn kinh tế. Chính Chúa Nguyễn Ánh trong thời gian tẩu quốc, đã nhìn thấy sự lợi hại của Sài Gòn, nên quyết tâm chiếm lại trong tay Nguyễn Lử, để làm hậu phương và căn cứ chính cho quân Nguyễn, chống lại Nhà Tây Sơn.

Qua các bản đồ cổ còn lưu trữ tại Nha Địa Dư VN, ta thấy đầu tiên Sài Gòn-Chợ Lớn, gần như phát triển riêng biệt. Cũng trong thời gian này tình trạng dân số tại hai thành phố tăng trưởng nhanh chóng, vì vậy Pháp đã mở nhiều trục lộ giao thông trong hai thành phố. Sau khi Đệ nhất thế chiến 1 chấm dứt, thực dân trở lại khai thác tài nguyên Đông Dương mà VN là quan trọng nhất. Từ Sài Gòn Chợ Lớn, Pháp di dân tới miền Đông là vùng đất xám đỏÔ rất phì nhiêu, để lập các đồn điền trồng cao su, cà phê, trà, mía, thuốc lá.. Đồng thới Pháp cũng di dân về đồng bằng sông Cửu Long, đào kênh, mở rộng đất đại trồng lúa.

Sự phát triển kinh tế Nam Kỳ, giữa hai cuộc thế chiến, làm tăng thêm sự thịnh vượng của Giang Cảng Sài Gòn, nhất là việc xuất cảng gạo. Cũng từ đó nhiều nhà máy xây lúa, các khu công nghệ chế biến.. gần như tập trung ở Chợ Lớn, thu hút cư dân cả nước đổ xô về thủ đô của Nam Kỳ lập nghiệp, nhờ sự phát triển của các hệ thống thiết lộ xuyên Việt từ Bắc vào tới Sài Gòn, Mỹ Tho và Lộc Ninh. Đường bộ lên tới Nam Vang của Cao Mên, được khai thác từ năm 1936 trong thời gian Doumer làm Toàn quyền Đông Dương. Mặc dù đã có đường xe lửa và đường bộ nối liền nhưng trước năm 1945, giữa Sài Gòn Chợ Lớn vẫn còn ngăn cách bởi khu nghĩa địa, nhiều đầm lầy, ruộng trồng lúa và các khu vườn trồng cây ăn trái.

Sau ngày 3-9-1945, Nhật thua trận đầu hàng Đồng Minh và rút hết về nước. Ngay lúc đó, thực dân Pháp được Anh giúp đỡ, đã trở lại cưởng chiên VN một lần nửa. Chiến tranh long trời lở đất khắp toàn cõi Đông Dương, kéo dài suốt 9 năm (1946-1954) , gây cảnh nhà tan người chết nhưng thảm thê nhất, vẫn là tuyệt lộ của đồng bào, trong thời lửa đạn, một cổ hai tròng của giặc Pháp xâm lăng và cọng sản núp trong Mặt Trận Việt Minh, tha hồ nhiểu nhương bá tánh, nhất là nhửng người không chịu theo phe đảng với chúng. Do vậy mà dân chúng khắp nơi, nhiều người phải bỏ làng mạc, đồng ruộng, chạy về Sài Gòn lánh nạn , làm cho dân số ở đây từ năm 1946 tới 1954, tăng thêm 4 lần (492.000 người - 1.900.800 người).

Cuối cùng quân viễn chinh Pháp đã bị toàn dân VN đánh bại tại Điện Biên Phủ nhưng thảm thê thay cho số phận của một dân tôc nhược tiểu trước sự sắp đặt của cái gọi là Liên Hiệp Quốc, nên đất nước lại chia đôi, làm cho nửa phần giang sơn gâm vốc của Hồng Lạc, đã phải ngậm ngùi đắng cay, lọt vào thế lực của Hồ Chí Minh và đảng cọng sản. Ngày 20-7-1954, hiệp định phân đôi đất nước chính thức được ký tại Genève, lần nửa đã làm hơn cả triệu đồng bào Miền Bắc, trốn chạy vào Nam tị nạn cọng sản, trong số này có 850.000 người đổ xô về thủ đô Sài Gòn-Chợ Lớn. Ngày 7-7-1954 nội các Ngô Đình Diệm chính thức ra mắt quốc dân VN, trong một giai đoạn cực kỳ hổn loạn nhất của đất nước với tình trạng sứ quân như thời nhà Ngô và trên hết nạn nhân mãn tại thủ đô.

- Sài Gòn thời VNCH (1955-1975):

                                                                                                                                                                                                                                                                                                       Image result for Sài Gòn thời VNCH (1955-1975):

Ngay khi thu hồi được nền độc lập từ thực dân Pháp, chính phủ VNCH đã nổ lực chỉnh trang và mở rộng thành phố Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định, để giải quyết tình trạng gia tăng dân số. Thành phố được mở rộng khắp nơi, ngoại trừ phía bên Thủ Thiêm vì sự ngăn cách bởi con sông Sài Gòn quá rộng, không có cầu bắc ngang sông và vùng bên đó có nhiều ao hồ, trũng thấp nên thường bị lụt. Nhiều cầu mới được bắc ngang kênh Tàu Hũ và Kinh Đôi, cùng với đường xe lửa và nhiều đường xá chạy song song với hai con kênh trên, khiến ranh giới giữa Sai Gòn-Chợ Lớn, được thu hẹp. Trong giai đoạn này, đã có nhiều xóm nhà bình dân, mọc lên ở vùng ven biên, gồm khu nhà sàn và nhà ghe dọc theo hai bờ kinh Tàu Hũ, từ Cầu Quây tới Chợ Quán, dọc theo bến Hàm Tử, Bình Đông và bến Phạm Thế Hiển (kinh Đôi).

Để giải quyết nạn nhân mãn tại thủ đô, ngoài việc hồi hương của quân viễn chinh Pháp và người Việt có quốc tịch nước này. Tổng thống Ngô Đình Diệm đã ban hành các Dụ số 7 (1955), Dụ số 57(1956), nhằm mục đích khuyến khích nông gia có ruộng trở về tiếp tục canh tác, nếu bỏ hoang sẽ bị truất hữu để phân phối cho người khác. Đạo luật trên, cũng nhằm thực hiện chính sách cải cách điền địa của Chính phủ Quốc Gia, giúp tá điền trở thành chủ điền, bằng chính sách tịch thu ruộng của những chủ điền có trên 100 mãu tây.

Ruộng này được bán lại cho tá điền, qua hình thức Tín Dụng, trả góp cho chính phủ trong 12 năm. Ngoài ra còn có Chính Sách Dinh Điền và Khu Trù Mật, dành cho đồng bào Di Cư Miền Bắc và Đồng Bào nghèo ở Miền Trung cũng như trên các tỉnh Cao Nguyên Trung Phần.. Tại các Khu Dinh Điền mới này, nông dân ngoài ruộng được cấp tùy theo nhân khẩu ( từ 1-2 mẫu), còn có quyền khẩn hoang tới 5 mẫu đất. Còn Khu Trù Mật thì dành riêng cho các gia đình sống rãi rác ở những vùng xa xội các trục giao thộng, quận, tỉnh.., được dồn về đây sinh cơ lập nghiệp. Đây là một địa điểm chuyển tiếp , giữa nông thôn và thành thị, nên có đủ cơ sở hạ tầng, trường học, chợ búa và bệnh xá . Tất cả miễn phí, nhà có điện và đất vườn trồng các loại cây ăn trái. Tóm lại chỉ trong 3 năm (1955-1957), chính phủ đã thiết lập được 72 Khu Dinh Điền + Trù Mật ở Cao Nguyên Trung Phần, 37 ở Miền Trung và 97 Khu tại Nam Phần. Nhờ vậy đã giảm bớt 250.400 người tại Sài Gòn (80.325 đồng bào miềnBắc di cư + 70.075 dân Miền Trung + số dân Đô Thành tình nguyện).

Ngoài ra Chính Phủ còn thực hiện nhiều công trình chỉnh tranh thành phố như dẹp bỏ thiết lô Sài Gòn-Mỹ Tho và hệ thống đường xe lửa điện trong thành phố, mở rộng các đại lộ chính, xây hai cầu Phan Thanh Giản và Thị Nghè, để mở rộng thành phố ra Xa lộ Biên Hòa.. Một hệ thống xe buýt công cộng, nối liền trung tâm thủ đô với các quân ven biên Tân Bình, Bình Thạnh, Phú Nhuận, khiến cho dân số vùng này, từ 64.700 (1951) tăng lên 236.000 (1959).

Ngày 20-12-1960, Hồ Chí Minh và cọng sản Hà Nội, lại phát động cuộc chiến tranh xâm lăng VNCH, qua bình phong MTGPMN , theo chiến thuật cố hữu ‘ lây nông thôn bao vây thành thị ‘, gây bất ổn đời sống của đồng bào khắp nơi, khiến cho nhiều người lại bỏ hết tài sản, ruộng vườn, để chạy ngược về Sài Gòn lánh nạn .Rồi thì chính biến 1-11-1963, Anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị sát hại dã man trên chiếc Thiết Vận Xa, từ Chợ Lớn về Bộ Tổng Tham Mưu. Dương văn Minh lên nắm quyền Chủ Tịch Hội Đồng QLVNCH, ra lệnh đình chỉ chương trình chỉnh trang thủ đo, đồng thời giải toả và dẹp bỏ các Khu Dinh Điền và Trù Mật của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Sự kiện trên đã làm hỏng chiến lược giãm dân thành phố và trên hết cô lập Việt Cộng trà trộn sống bám vào dân, tạo cơ hội cho cọng sản trở lại nằm vùng và len lõi vào dân đang sống tại các Ấp Đời Mới (Tân Sinh), sau khi bỏ hết các vòng rào chiến lược, phòng thủ.

Sau 3 năm (1963-1966) xáo trộn chính trị vì nạn loạn tướng, kiêu tăng và cha cố ông trời, làm cho tình hình cả nước cũng như tại thủ đô nát bét vì sự tranh dành quyền lực của mọi phe nhóm, tạo cơ hội cho VC hồi sinh, đánh phá khắp nơi, khiến cho dân chúng nông thôn bồng bế chạy về các thị trấn, tỉnh lỵ và thủ đô lánh nạn, làm cho vật giá leo thang, thất nghiệp trầm trọng, nẩy sinh nhiều tệ đoan xã hội như trộm cướp, giết người, hút xách, đĩ điếm, lấy Mỹ và quân đội Đồng Minh có mặt tại VNCH. Tháng 7-1967, Nguyễn Văn Thiệu đắc cử Tổng Thống Đệ Nhị nền Cộng Hòa Miền Nam. Từ đó Ông lại tiếp tục sự nghiệp phát triển Thủ Đô như mở mang hệ thống giao thông vận tải, thực hiện chương trình làm đẹp thành phố, xây cát cư xá, nhà ở.

Ngoài ra còn xây dựng nhiều xí nghiệp tại Thủ Đức và Khu Kỷ Nghệ Sài Gòn-Biên Hòa. Về quân sự, để đối phó với cọng sản miền Bắc đang xâm lăng Miền Nam, Tổng Thống Thiệu tiếp tục chiến lược dang dở của Cố Tổng Thống Diệm, qua Chiến Dịch Phượng Hoàng (1969-1970) , sau trận Mậu Thân (1968) để bình định nông thôn. Nhờ vậy QLVNCH đã đẩy lui VC trở lại rừng núi, mật khu, đồng thời kiểm soát hầu hết dân chúng Miền Nam VN tại Cao Nguyên cũng như miền Đồng Bằng từ Quảng Trị vào tới Hà Tiên. Tăng cường an ninh tại khu Trù Mật, Dinh Điền, Ấp Đời Mới với các lực lượng Địa Phương Quân + Nghĩa Quân + Nhân Dân Tự Vệ và Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn.. Cuối cùng Chính Phủ lại tiếp tục chương trình cải cách điền địa còn dang dỡ của Tổng Thống Diệm nhưng vấp phải sự lấn đất dành dân của cọng sản. Do trên Chính Phủ lại phải xây dựng nhiều làng mạc mới trên các Quốc Lộ, để định cư dân chúng trong các vùng xa xôi bị giặc tạm chiếm, khiến đồng ruộng thôn xóm lại bị bỏ hoang, vì nhiều người về các thành phố sinh sống, lánh nạn.

Tóm lại từ ngày độc lập (tháng 7-1954) cho tới cuối tháng 4-1975, dù bị Hồ Chí Minh và cong sản đệ tam quốc tế xâm lăng phá hoại không ngừng nhưng chính phủ VNCH, cũng đã cố gắng kỷ nghệ hóa đất nước, mở rộng các xí nghệp khắp nơi tại thủ đô, nhất là ngành dệt và chế biến thực phẩm, hóa học, dược liệu, điện và các loại máy móc.. với số lượng thống kê là 8132 cở sở lớn nhỏ.

Sài Gòn cũng là nơi tập trung tất cả cơ quan đầu não của chính phủ như các bộ, quốc hội, tòa đại sứ của các phái bộ ngoại giao. Tính đến cuối tháng 4-1975, thủ đô ( Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định) với tổng số trên 4 tiệu dân, là một trong những thành phố đẹp đẽ tráng lệ nhất thế giới, là một thị trường tiêu thụ to lớn nhất VN vì có một đại giang cảng thuận lợi, với số hàng hóa xuất nhập lên tới 7,5 triệu tấn hằng năm, đó là chưa kể tới Tân Cảng và Giang Cảng nhập Xăng Dầu tại Nha Bè. Thủ đô Sài Gòn còn có phi cảng quốc tế Tân Sơn Nhất, vô cùng tấp nập với hơn 1.070.000 hành khách đi về (năm 1970) với đầy đủ các hãng hàng không quốc tế, nên được mệnh danh là Chicago Châu Á. Riêng Hàng Không VN đãm trách các đường bay quốc nội, tại các phi trường tối tân vừa được thiết lâp ở Huế, Đà Nẳng, Qui Nhơn, Pleiku, Ban Mê thuộc, Đà Lạt, Nha Trang, Tháp Chàm, Phan Thiết, Biên Hòa, Vũng Tàu, Cần Thơ, Phú Quốc, Mỹ Tho..

Sài Gòn là vậy đó, VNCH là vậy đó, thảm thay tất cả bị sụp đổ hoàn toàn vào trưa ngày 30-4-1975, qua lệnh đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh.

3-THÀNH HỒ SAU NGÀY 30-4-1975, CÁI GÌ CŨNG CÓ :

                                                                                                                                                                                                                                                                                                        Image result for THÀNH HỒ SAU NGÀY 30-4-1975, CÁI GÌ CŨNG CÓ :

Ngay khi Sài Gòn vừa lọt vào tay giặc, tháng 5-1975, CSBV lập Ủy ban quân quản thủ đô và Ủy ban cách mạng tại các tỉnh, ra lệnh phong tỏa ngân hàng và chiếm đoạt tất cả các xí nghiệp cả nước, công hay tư, từ lớn tới nhỏ. Bắt đầu từ đó, các xí nghiệp được điều hành bởi một thành phần quản ly mơi, gồm toàn cán bộ cọng sản miền Bắc hay tập kết. Riêng chủ nhân thực sự của xí nghiệp thì giữ vai trò ‘ cố vấn kỹ thuật’. Đồng thời ra lệnh kiểm kê hết các cơ sở công nghiệp nhỏ và nhà buôn. nhưng ác liệt nhất vẫn là hai đợt cướp của, qua cái danh từ mỹ lệ : Đánh Tư Sản Mại Bản .

Vào tháng 9-1975, Hà Nội ra lệnh bắt giam hay quản thúc tại nhà, tất cả đại kỷ nghệ gia, thương gia, chủ cao ốc, khách sạn, nhà hàng, nhà in, tiệm sách báo.. tất cả hơn 100 người. Họ bị đuổi ra khỏi cửa, sau khi toàn bộ tài sản gồm nhà cửa, xí nghiệp, xe cộ, tiền bạc vàng ngọc .. bị đảng trấn lột hết. Đồng lúc là đợt đổi tiền đầu tiền. Cũng từ đó đồng bạc VNCH không còn giá trị và được đổi thành tiền Mặt Trận, tối đa mỗi gia đình được 200 đồng ( tương đương 100.000 tiền VNCH). Theo VC, miền Nam lúc đó có hai loại tư bản là Tư sản thương nghiệp bao gồm đại thương gia, trung thương gia, chủ tiệm ăn. được đảng gán tội bóc lột nhân dân, đầu cơ tích trử để trục lợi, nên phải có tội .Còn giới buôn bán nhỏ và các tiểu công nghệ.. là thành phần sản xuất có ích cho xã hội chủ nghĩa nhưng cũng phải được cải tạo để theo đúng đường lối của chế độ đề ra.

Từ thàng 3 -5/1978, để tiêu diệt và xóa sổ những gì còn lại của nền kinh tế VNCH trước năm 1975, VC lại đánh tư bản miền Nam đợt 2 vào ngày 23-3-1978, vô cùng qui mô và ác liệt, chẳng những tại thủ đô Sài Gòn, mà ở khắp các thành thị từ vỉ tuyến 17 vào tận Cà Mâu, Rạch Giá, Hà Tiên. Lần này coi như vĩnh tuyệt, vì tất cả tài sản của người miền Nam, từ tiền bạc, vàng ngọc, nhà cửa, cơ sở thương mại, lều nước mắm, nhà máy xay lúa, ghe thuyền đánh cá, xe đò, xe vận tải và các loại xe nhỏ.. đều bị đảng cướp giựt, tịch biên một cách công khai.

Tàn nhẩn hơn, đảng còn ra lệnh cho những nạn nhân tay trắng này, trong vòng một tháng phải ra khỏi Sài Gòn, để đi kinh tế mới. Riêng tại Sài Gòn, tính đến ngày 3-5-1978 đã có hơn 30.000 người, bị đuổi khỏi mái ấm gia đình và nơi chôn nhao cắt rốn, để vất vưởng tha phương tới các vùng gọi là kinh tế mới, được thiết lập sát biên giới Việt-Miên trong các tỉnh Tây Ninh, Bình Long, Phước Long,An Xuyên, An Giang, Đồng Tháp Mười, Châu Đốc Lâm Đồng.. hay gần hơn nếu còn chút tiền chạy chọt, sẽ được đưa tới các nông trường tập thể Lê Minh Xuân, Nhị Xuân, Thái Mỹ, Phạm Văn Cội 1 và 2, ở Củ Chi và Hậu Nghĩa.

Tóm lại ở đâu đồng bào cũng lâm vào tuyệt lộ, dù là công nhân tại các nông trường với đồng lương chết đói. Riêng chủ nhân xe đò, ghe bầu, tàu đánh cá, xe vận tải.. được xem là thành phần tư sản dân tộc nên trở thành xí nghiệp công tư hợp doanh nhưng do nhà nước quản lý, cán bộ đảng làm giám đốc, còn người chủ thật sự, thì lên chức cố vấn kỷ thuật. Tuy nhiên giới này còn được chút an ủi, là được cho phép ở lai thủ đô, có hộ khẩu tem phiếu và hưởng qui chế công nhân viên nhà nước, từ 60-85 đồng bạc Hồ. Có một ít được lãnh lương đồng hóa chuyên viên, lương 105 đồng. Nhưng lở hết rồi, có không muốn cũng đành chịu. Sau rốt là những người buôn bán nhỏ, được đảng cho hành nghề trong các khu vực tập trung, với giá cả đã có sẳn.

Như lời Tú Trinh quảng cáo, Sài Gòn bây giờ, qua danh xưng Thành Hồ cái gì cũng có, sau khi đành mở cửa, trãi thảm đỏ rước tư bản đỏ trắng, ngay cả kẻ thù không đội trời chung là Hoa Kỳ và Người Việt ti nạn khắp thế giới, một thời từng bị Hà Nội phỉ báng, chưỉ bới là những thành phần phản quốc, cặn bã của xã hội,trốn ra nước ngoài, gái thì làm điếm, trai ăn cướp lưu manh., đâu có chừa ai, dù là kỹ sư, bác sĩ, tướng tá, nhà văn, nhà báo, kể cả sư cha và me Mỹ-Pháp..

Cũng nhờ mở cửa cứu đảng, mà từ năm 1990 tới nay, thành Hồ không những hóa rồng mà còn là “ hang cáo “, tưng bừng nhảy vọt qua tuyên truyền trên báo đảng và những luận điệu tân bốc của một vài tờ báo Việt ngữ và đài ngoại quốc có chương trình tiếng Việt.

Nhưng cũng lạ vì hầu hết những người về nước thăm nhà, kể cả những người già gần xuống đất, cũng ráng trở lại quê hương thứ hai để tiếp tục hưởng trợ cấp và tiện nghi , chứ có ai muốn ở cõi thiên đường, nơi “ Cái Gì Cũng Có “ , sau cuộc đổi đời ngày 30-4-1975.-/-

.
Xóm Cồn Hạ Uy Di
Cuối tháng 4-2018

Mường Giang

Đọc các bài liên quan của cùng tác giả tại đây.

Share

scroll back to top
 

TIN MỚI NHẤT