DIỄN ĐÀN NGƯỜI DÂN VIỆT NAM

XÂY DỰNG CÔNG BẰNG THỊNH VƯỢNG NHÂN BẢN

Nhận Định Về Ba Vai Trò Của Bảo Đại: Vua, Cố Vấn Tối Cao, và Quốc Trưởng (P14)_GS.Nguyễn Văn Lục.

E-mail Print

1949 — Tiến tới một giải pháp cho Việt Nam
 

  blank

1948 Emile Bollaert et Léon Pignon à Saïgon F. NADAL Dessin de presse
“I put the instructions in the big suitcase and powers in this small package” — “Tôi cất những chỉ thị trong chiếc va ly lớn và các quyền hạn trong cái túi nhỏ này” —  “J’ai mis les consignes dans la grosse valise et les pouvoirs dans ce petit paquet “. Encre de chine sur papier dessin
SIGNATURE: Monogrammé FN

Hai ngày sau khi từ giã Bảo Đại, Bollaert từ chức vào tháng 10-1948, Léon Pignon lên thay Bollaert trong vai trò Cao Ủy Pháp ở Đông Dương. Bảo Đại về Cannes nghỉ. Người kế nhiệm Bollaert lại lục tục đến Cannes để xin yết kiến Bảo Đại. Kết quả không thay đổi gì. Tiếp theo là nhiều nhân vật Pháp cũng lục tục kéo đến gặp như Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Coster-Floret, rồi bác sĩ Henri Queuille, rồi đại tướng Guillain de Bénouville, ông Terenoire, cánh tay mặt của tướng De Gaulle.

Tuy nhiên, tất cả các cuộc thương thuyết trao đổi đều thất bại, vì thái độ cứng rắn của tướng De Gaulle. Đối với De Gaulle, mảnh đất Nam Kỳ vốn là đất thuộc địa của Pháp từ năm 1864. Đó là điểm mà không thể nào làm lay chuyển quan điểm chính trị của De Gaulle được.

Cái nút tháo gỡ tình trạng bế tắc này tùy thuộc chủ yếu vào tình hình chính trị bên Trung Quốc. Mao Trạch Đông đã chính thức công khai có mặt ở Bắc Kinh ngày 22 tháng giêng năm 1949. Theo Bảo Đại, sau đó, diễn tiến cuộc đàm phán tiến triển rất nhanh như sau:

“Người Pháp lo sợ sự đe dọa trực tiếp của cộng sản Tàu đã tức tốc thành lập một ủy ban hỗn hợp vào ngày 12 tháng ha năm 1949 để nhanh chóng có thể đi đến một thỏa thuận ở vịnh Hạ Long.

Về phía người Pháp, Ủy ban này do Herzog cầm đầu và có các vị như ông Marolles, de Per eyra, de Raymond, Risterrucci, thiếu tá Ploix với 5 chuyên viên gồm: Ông Gonon, phụ trách về vấn đề tài chánh, Anziani, phụ trách vấn đề kinh tế, ông Terre phụ trách về kế hoạch, Dannaud về vấn đế văn hóa và đại tá Bresbisson về vấn đề quân sự.

Về phía Việt Nam có ông Bửu Lộc, luật sư tốt nghiệp ở Paris lãnh đạo phái đoàn Việt Nam, bao gồm luật sư Nguyễn Đắc Khê, bác sĩ Phan Huy Đán và các ông Trương Công Cừu, Nguyễn Quốc Định, Đinh Xuân Quảng và bác sĩ Nguyễn Mạnh Đôn.

Ngày 13, chủ tịch Trần văn Hữu cũng đến Paris đại diện cho chính phủ Nguyễn Văn Xuân.

Và đến ngày 28 tháng 2, các chuyên gia đã soạn thảo xong bản phúc trình. Đến ngay 3-3, tất cả mọi người đều có mặt ở điện Élysée tại văn phòng của tổng thông Vincent Auriol để trao đổi chữ ký.” (S.M. Bao Daï, ibid., trang 217-218)

Đây là một trang sử lớn đã vượt qua. Tổng thống Vincent Auriol cầu chúc mọi người sẽ đoàn kêt lại chung quanh Bảo Đại. Những vị đại diện Việt Nam lúc này bao gồm hoàng thân Vĩnh Cẩn, Bửu Lộc, Trần Văn Hữu và Nguyễn Mạnh Đôn.

 

Kể từ nay, hiệp ước này sẽ thay thế tất cả các văn kiện đã được ký kết trước đây bởi các vị tiên đế.

Sau đó, có cuộc trao đổi chữ ký của ba văn kiện chính thức.

Với các văn kiện này, nước Pháp nhìn nhận một nước Việt Nam thống nhất và độc lập. Chính quyền Việt Nam là một quốc gia độc lập, có nền ngoại giao riêng trong khuôn khổ Liên Hiệp Pháp, có quân đội riêng, có nền hành chánh, tài chánh riêng, có chủ quyền pháp lý riêng, chỉ trừ các công dân Pháp thì có một tòa án hỗn hợp để xét xử.

“Thủ tục để đạt được Hiệp Định này thật khó khăn vì chính phủ Pháp có một Quốc Hội địa phương tại Nam Kỳ gồm cả đại diện Pháp và Việt Nam. Kết quả bỏ phiếu lần đầu là 25 phiếu chống sát nhập và 25 phiếu thuận.

Nghe tin xấu này, Bảo Đại đã hủy bỏ chuyến bay không về nước nữa.

Chính phủ Pháp phải cấp tốc gửi Pignon sang Sài Gòn. Đến ngày 23 tháng tư, Quốc Hội địa phương họp để bầu lại. Kết quả lần này có 45 phiếu thuận cho sát nhập Nam Kỳ về cho Việt Nam và chỉ có 5 phiếu chống. Với thành quả đó coi như chính phủ Pháp đã trao trả độc lập cho Việt Nam và đất nước từ nay được thống nhất. Sau đó Bảo Đại quyết định đáp máy bay về nước sau 3 năm xa cách. Ông về ở Đà Lạt thay vì Sài gòn.”  (Nguyễn Văn Lục, Kỷ niệm 59 năm ngày ký Hiệp Định Élysées ký kết giữa pháp và Bảo Đại.TạpChíTânVăn,số11,2008,trang10)

blank

Bảo Đại và Tổng thống Vincent Auriol của Pháp ký Hiệp định Elysee. Như một phần của thỏa thuận của Pháp cam kết giúp đỡ trong việc xây dựng một đội quân quốc gia chống cộng sản (9 tháng 3, 1949, Điện Élysées, Paris)

Sau bao nhiêu thử thách và thương lượng mới đạt được kết quả mong đợi. Bảo Đại quyết định rời Pháp về Việt Nam trên chiếc máy bay DC4 mà chính phủ Pháp dành sẵn cho ông.

Dưới mắt Bảo Đại thì đây là văn kiện mở đường cho một giai đoạn thu hồi độc lập cũng như một nền hòa bình vĩnh viễn cho Việt Nam. Thể thức này nó cũng tương tự như tình trạng các nước láng giềng ở Đông Nam Á như Phi Luật Tân, Miến Điện và Ấn Độ..

Nếu so sánh với các văn kiện do Hồ Chí Minh đã ký kết với người Pháp vào năm 1946 như tại Hội Nghị Đà Lạt ngày 12-5-1946 và Hội Nghị Fontainebleau. Hội nghị Fontainebleau tự giải tán vào 12-9-12946, Hồ Chí Minh phải đến nhà Bộ trưởng Moutet vào buổi tối vội vã ký một tạm ước, đăc biệt không đả động gì đến chính phủ Nam Kỳ tự trị thì hiển nhiên có sự tiến bộ rõ rệt mà chính quyền Việt Minh cho đến thời điểm này đã đổ bao xương máu cũng chưa đạt được.

Tôi đặt ra vấn đề ở đây, xét về mặt chính trị, ai còn cho rằng chỉ có cộng sản mới có công dành được độc lập, thống nhất đất nước bằng chiến tranh thì nên nhìn lại giải pháp Bảo Đại. Một giải pháp mặc dù có tính giai đoạn của bước đầu, nhưng nó hứa hẹn một giải pháp toàn diện mà điều quan trọng hơn cả là không tốn hao sinh mạng người dân.

Thật vậy, chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới đã tiêu phí trên 100 triệu dân từ một thế kỷ nay nhằm tiêu diệt các “thế lực phản động” như tư bản, phong kiến, thực dân. Riêng Mao Trạch Đông trách nhiệm về cái chết của 70 triệu người dân Trung Hoa như lời nhận định của Jung Chang và Jon Halliday trong “Mao: The Unknow Story”, xuất bản năm 2005 như sau:

“Mao Tse-tung, who for decades held absolute power over the lives of one-quarter of the world’s population, was responsible for well over 70 million deaths in peacetime, more than any other twentieth century leader.” (Trích trong báo Los Angeles Times, April 13, 2008)

Tham vọng bá quyền của cộng sản Việt Nam đã không lý gì đến thành tựu của Hiệp Định Élysée và tiếp tục hy sinh hàng trăm ngàn người dân vô tội để đạt được một thỏa thuận chia đôi đất nước với Hiệp Định Genève.

Giữa Hiệp định Genève và Hiệp định Élysées, ngày nay ta có thể đánh giá và chọn lựa một giải pháp nào tốt đẹp nhất cho Việt Nam.

Đứng trên lập trường dân tộc, ai đem lại độc lập thống nhất thì đều có công với đất nước. Vậy thì việc cộng sản từ chối giải pháp Bảo Đại và tiếp tục cuộc chiến tranh nhân danh ý thức hệ cộng sản là có tội với lịch sử, với đất nước.

Cho đến lúc này, công cuộc giải thực quả thực không cần đến một cuộc chiến nồi da xáo thịt đẫm máu như nó đã xảy ra. Xu hướng mang tính thời đại cho thấy đa phần các quốc gia bị đô hộ đã dành lại độc lập mà không cần đến một cuộc chiến tranh như đã xảy ra cho Việt Nam.

Hôm nay, tôi muốn nhắc lại ba ngày lịch sử mà phần lớn người Việt đã quên hoặc không biết tới. Một lần nữa, xin giới thiệu những tài liệu liên quan đến biến cố chính trị này để mọi người hiểu rằng đã có lúc lịch sử dân tộc thống nhất và độc lập trong tầm tay mà chúng ta đã để vuột khỏi. Lịch sử không có những chữ nếu, nhưng lịch sử Việt Nam thì đầy những chữ nếu như thế. Nếu người Pháp có thiện chí trong những cuộc thương lượng từ 1945-1946. Nếu chủ trương chống lại chủ nghĩa thực dân của TT Roosevelt vẫn được thực hiện. Nếu De Gaulle đã kinh nghiệm nỗi nhục bị Đức Phát Xít dày xéo quê hương ông và ông sẵn sàng buông tha các thuộc địa như Việt Nam. Nếu Hồ Chí Minh không theo cộng sản Tầu cũng như Nga Xô. Nếu Bảo Đại có lòng và xả thân với đất nước.

“Về phía Việt Minh cộng sản, ngày 26 tháng tư, Bộ đội Việt Minh phải vận dụng mọi phương tiện để tấn công các tầu bè, bắn các máy bay. Mỗi tỉnh thành đều phải rút thăm, một tỉnh 4 người, ai may mắn trúng thăm họp thành một ủy ban tình nguyện gọi là “uỷ ban ám sát” đột nhập vào Sài Gòn để ám sát Bảo Đại..Ngay tại Sài gòn thì cấm chợ, cấm buôn bán, đóng cửa ở trong nhà, cấm mua bán, cấm ra ngoài, cấm mua báo chí.” (Daniel Grandclément, ibid., trang 308-309)

Tất cả những biện pháp tuyên truyền của Việt Minh đều vô hiệu, ra ngoài mọi dự liệu của họ. Ba tên khủng bố định ném lứu đạn vào xe của Bảo Đại thì đã bị bắt trước đó. Số người dân đi đón Bảo Đại không bao nhiêu lúc đầu, vì sợ bị Việt Minh trả thù.

Phần Bảo Đại đã gửi một điện tín như sau cho bà Nam Phương: “Excellence tournée à Sài Gòn. Accueil très sympathique.” (Chuyến trở về tốt đẹp. Cuộc đón tiếp rất nồng hậu)

Tôi xin ghi lại đây quang cảnh Sài gòn lúc bấy giờ trong ngày lễ ký kết Hiệp định. Ở giữa, như thường lệ, người ta có đặt một bàn thờ tổ quốc ghi như sau: Chính giữa ghi Thống nhất Việt Nam. Bên trái ghi Kỳ công cựu hoàng Bảo Đại. Bên phải ghi: 13-14-15 tháng sáu dương lịch 1949.
                                blank

Biểu tình ủng hộ bảo Đại. Nguồn: Goscha, Christopher, La Guerre d’Indochine 1945-1956, UQAM – Université du Québec à Montréal

“Thành phố Sài gòn được sống những ngày hội tưng bừng mừng Độc Lập và Thống Nhất. Ngay từ sáng sớm, phi trường Tân Sơn Nhất náo nhiệt với các xe hơi nối đuôi nhau đưa các nhân vật Pháp Việt, nhân viên chính phủ và báo chí Việt-Pháp ngoại quốc đến phi trường.

Trên đường Sài gòn-Tân Sơn Nhứt, người ta thấy nhiều khải hoàn môn đã được dựng lên với nhiều khẩu hiệu: “Bảo Đại, ngươn thủ V.N”, “Toàn dân Nam Việt chào mừng vị cứu tinh”, “Hoan nghênh tinh thần dân chủ của cựu hoàng”. “Việt Nam độc lập muôn năm.” (Nguyễn văn Lục, ibid., trang 15)

“9 giờ 30, các tóan lính danh dự đã giàn sẵn, và gồm các bộ binh của không quân, Bắc Phi, vệ binh Nam phần, lính nhảy dù và quân cơ giới.

10 giờ 5 phút, Tổng trấn Trần Văn Hữu và ủy viên cộng hòa De Latour dượt qua các toán binh hầu, kế đến lượt các đại tướng Revers và Blaizot.

Các nhân vật Việt và Pháp: nhân viên chánh phủ Trung Ương, Nam Phần Việt Nam, các vị cố vấn liên bang, các đại tướng chỉ huy hải lục không quân Pháp ở Viễn Đông đều có mặt đông đủ, đứng dài theo mé phi trường theo thứ tự. Điều đáng để ý nhất là các lãnh sự ngoại quốc ở Sài gòn cũng có mặt như: Anh, Mỹ, Trung Hoa, Hòa Lan vv.. đều đến đông đủ. Phải chăng là điềm báo hiệu các cường quốc ngoại bang sẵn có cảm tình với tân quốc gia Việt Nam và đã gián tiếp nhìn nhận.

Trong lúc mọi người đang trò chuyện thì thoạt trên không trung hiện ra chiếc phi cơ riêng của cựu hoàng, hiệu Beechcraft, 2 động cơ, sơn cờ Việt Nam. Hai bên có khu trục Spitfire hộ tống. Lúc ấy trước 10 giờ vài phút. Sau khi bay ngang những toán binh đang giàng hầu, phi cơ cựu hoàng từ từ đáp xuống sân bay.

Khi Cựu Hoàng đến trước quốc kỳ Việt Pháp, ban nhạc liền đánh bản Đăng-Đàn-Cung và quốc thiều Việt-Pháp. Trong lúc ấy, đại bác bắn 21 tiếng để chào mừng Cựu Hoàng. Sau khi dượt qua các toán binh danh dự gồm có bộ binh, thủy quân, lính Bắc Phi, cộng hòa vệ binh và lính nhảy dù cùng quân cơ giới. Cựu Hoàng đi ngang qua các lãnh sự ngoại quốc, các chỉ huy quân sự tối cao của quân đội Pháp, nhân viên chánh phủ Việt Nam và phái đoàn các hội nghị N.P. công chức. Xong Ngài đứng trước sân để xem các toán quân danh dự biểu diễn ngang để chào Ngài.

10 giờ 30, Cựu hoàng cùng Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân ngồi chiếc xe mui trần về Dinh.” (Nguyễn Văn Lục, ibid., trang16)

Ngày hôm sau là lễ trao đổi văn kiện tại Thị sảnh Sài Gòn. Có khoảng 25.000 người dân đứng trước tòa Thị sảnh để đón tiếp Cựu Hoàng. Người ta nhìn thấy có nhiều khẩu hiệu viết bằng chữ son trên vải trắng như: Triệt để thi hành Hiệp Ước 8-3-49. Dân Mạnh, nước mạnh. Đoàn kết sống, chia rẽ chết. Độc Lập, hòa bình, tự do cơm áo. Hoan nghinh cựu hoàng Bảo Đại.

Cựu Hoàng và và ông Thượng sứ trao đổi văn kiện và đọc diễn văn chào mừng. Trao đổi văn kiện xong, đại diện hai dân tộc Việt-Pháp xiết chặt tay nhau. |Cao ủy cũng bắt tay thủ tướng Xuân, người đã đóng một vai trò quan trọng trong việc thương thuyết.

Cựu Hoàng và Cao Ủy ra bao lơn chứng kiến lễ thượng cờ Việt Nam, súng đại bác bắn chào. Sau đó, Cao Ủy ra xe trở về Dinh. Cựu Hoàng ra trước bao lơn ngỏ lời kêu gọi quốc dân Việt Nam.

Riêng cá nhân Bảo Đại, ông cho rằng ông đã làm xong một nhiệm vụ lịch sử vì đã thương thuyết lấy lại sự thống nhất cho Việt Nam.
 

Vài dòng kết luận

Nếu nói cho công bằng thì sở dĩ Bảo Đại đạt được thỏa ước đem lại sự thống nhất cho Việt Nam là do tình thế lúng túng của người Pháp lúc bấy giờ trước sự đe dọa có sự can thiệp của Mao Trạch Đông vào Việt Nam. Người Pháp sợ bóng ma cộng sản Tàu hơn là cộng sản Việt Nam. Sự lo sợ ấy thật chính đáng bởi vì kể từ đầu năm 1949, quân đội cộng sản của Võ Nguyên Giáp đã chuyển từ thế du kích, phòng thủ sang trận địa chiến, đối đầu trực diện với quân đội Pháp.

Có một sự kiện quan trọng lịch sử là từ lúc nào, ai là người đề xướng để Bảo Đại trở thành Quốc Trưởng Việt Nam? Thắc mắc này cần được giải đáp theo các tài liệu lịch sử mà chúng ta có được.

Trong các văn kiện chính thức về phía Việt Minh, họ vẫn gọi ông bảo Đại là cố vấn tối cao dù ông đã vắng mặt khỏi Việt Nam sang lưu vong bên Tàu và Hồng Kông.

Chỉ đến lúc Bảo Đại quyết định hồi hương để ký văn kiện với Pháp thì Việt Minh dứt khoát đổi giọng. Tại Nam Kỳ, một chiến dịch bôi nhọ Bảo Đại một cách rầm rộ và còn kết án tử hình Bảo Đại khi ông quyết định về nước. Tòa án quân sự Liên Khu III tuyên án tử hình Bảo Đại về tội bán nước, chiếc đầu Bảo Đại được định giá là 100.000 theo thời giá tháng 8 năm 1949. Một năm sau, do đồng tiền mất giá chăng? Số tiền thưởng nay được tăng lên 300.000 đồng..

Bên cạnh đó, như thói quen thường làm của Việt Minh, có những câu vè được tung ra và sau này Mật thám của Tây còn lưu trữ được cho đến ngày nay như sau:

“Nguyễn đi rồi Nguyễn lại về
Nguyễn về để đóng vai hề tay sai..
Gái đẹp cùng với rượu Tây
Quốc Trưởng mê gái liếm giầy thực dân
Khi nào súng nổ đâu đây
Bù nhìn Bảo Đại tan thây có ngày.”
(CAOM, Lưu trữ bộ Pháp Quốc hải ngoại, SPCE, (Phòng báo chí quân đội viễn chinh), năm 1949. Trích lại trong Daniel, Ibid., trang 330)

Việt Minh viết sẵn các câu vè dán trên các ô tô, khách sạn, các cửa hàng, cá chợ búa và chỉ trong một ngày, hầu như toàn thể dân Sài gòn nhận được những câu thơ đại loại như sau mà người viết bài này mong nó được giữ lại như một chứng liệu lịch sử:

“Hỏi rằng ai đã long trọng thề trước dân chúng: “Ta thà làm công dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ.”
– Đó chính là Bảo Đại.

Ai đã nhận nhiệm vụ làm cố vấn tối cao cho chính phủ VNDCCH rồi lại bỏ trốn ra nước ngoài tha hồ ăn chơi trác táng?
– Đó cũng chính là bảo Đại.

Ai là người đã ngửa tay nhận tiền của Mỹ và Pháp để sống ăn chơi, trụy lạc và để trả ơn quan thầy, đã hèn mạt quỳ gối ký hiệp định vịnh Hạ Long và Hiệp định Auriol?
– Cũng chính là Bảo Đại.

Nối nghiệp bán nước của cha ông dòng họ, một tên vua lấy sống trụy lạc trong vũng bùn nay lại ngửa tay nhận tiền của kẻ thù để sằn lòng làm tay sai cho chúng để tàn sát đồng bào, còn tự coi minh là cứu tinh của tổ quốc!

Tên vua đó phải bị toàn dân Việt Nam lên án.

Đả đảo tên vua phản bội Bảo Đại
Đả đảo tên vua bán nước Bảo Đại
Đả đảo tên vua mất gốc.
Đả đảo tên vua rước voi về dầy mả tổ.”
(Trich CAOM, SPCE, 376, année 1949. Trích Daniel Grandclément, ibid., trang 308)

Về tước hiệu Quốc Trưởng

Về phía các tài liệu, các văn kiện chính thức được ký kết giữa Pháp và Việt Nam đều dùng tước hiệu quen thuộc là: Hoàng Đế Bảo Đại. Ngay tại buổi lễ đón tiếp Bảo Đại tại Sài Gòn, vào năm 1949, danh xưng chính thức được dùng vẫn là Hoàng Đế Bảo Đại.

Trong Công điệp của Tổng thống Cộng hòa Pháp quốc gửi Hoàng Đế Việt Nam về vấn đề thống nhất và độc lập nước Việt Nam được ghi như sau:

“Paris, ngày 8 tháng 3 năm 1949.
Tổng Thống Cộng Hòa Pháp Quốc
Chủ tịch Liên Hiệp Pháp,
Kính tâu Hoàng Đế Bảo Đại
Tâu Hoàng Thượng.”

Nhưng chỉ đến khi chính thức thành lập Thành phần chính phủ Việt Nam theo giải pháp Bảo Đại thì thấy đã có một sự thay đổi được ghi như sau:

“Quốc Trưởng kiêm Thủ tướng: Đức Bảo Đại
Phó Thủ tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc Phòng: Trung tướng Nguyễn Văn Xuân.”

Xét như trên thì chức danh Quốc Trưởng chỉ thực sự được xử dụng khi thành lập chính phủ. Ngoài chức vụ Quốc Trưởng, Bảo Đại còn kiêm nhiệm thêm chức vụ Thủ tướng nữa.

Điều trình bày trên giúp làm sáng tỏ chức danh Quốc trưởng của Bảo Đại mà nhiều phần do chính ông chọn lựa và tự phong không có ai khác như Quốc Hội vv.

Kể từ ngày thành lập chính phủ Nguyễn văn Xuân, Bảo Đại nắm vai trò chủ yếu vừa là Quốc Trưởng, vừa là Thủ tướng chính phủ.

Tiếc thay, Bảo Đại trên thực tế đã không bao giờ trực tiếp điêu hành chính phủ trong vai trò Thủ tướng. Và như thường lệ, ông đã rút lên ĐàLạt để đi săn bắn, cờ bạc và gái để mặc cho Nguyễn Văn Xuân một mình muốn làm gì thì làm.

Chúng ta sẽ có dịp tim hiểu xem trong vai trò Quốc Trưởng và Thủ tướng chính phủ?

 

(Còn tiếp)


Nguyễn Văn Lục

Nguồn: DCVOnline

Theo :http://ngo-quyen.org/p3590a5958/gs-nguyen-van-luc-nhan-dinh-ve-ba-vai-tro-cua-bao-dai-vua-co-van-toi-cao-va-quoc-truong-p14-

Share

scroll back to top
 

TIN MỚI NHẤT