DIỄN ĐÀN NGƯỜI DÂN VIỆT NAM

XÂY DỰNG CÔNG BẰNG THỊNH VƯỢNG NHÂN BẢN

Trường hợp Lý Chánh Trung [1]_Nguyễn Văn Lục.

E-mail Print

Lý Chánh Trung, Tố Hữu, Lê Quang Vịnh, Lê Văn Nuôi, Huỳnh Tấn Mẫm, Nguyễn Đình Thi. Ảnh: internet

Lý Chánh Trung, Tố Hữu, Lê Quang Vịnh, Lê Văn Nuôi, Huỳnh Tấn Mẫm, Nguyễn Đình Thi. Ảnh: internet

 

Trong một bài biên khảo  nhan đề: 20 năm giới trí thức miền Nam, tôi đã có dịp đề cập đến trường hợp Lý Chánh Trung.. như một biểu tượng của trí thức thiên tả miền Nam trước 1975. Nhưng nay ông vào tuổi xế chiều mà thời gian còn lại cho ông không còn bao nhiêu nữa. Vinh danh và quyền lực của đảng cộng sản dành cho ông như chức tước cũng đã đến lúc trắng tay.

Cuộc sống của ông hiện nay lúc cuối đời xem ra thanh bạch, đạm bạc mà nhiều phần là túng thiếu.

Còn nhớ vào những năm tháng ấy, sau 1975- quyền lực trong tay cũng có- vậy mà Lý Chánh Trung cảm động và khoe một cách hãnh diện là vừa có học trò cho một bao gạo.

Bao gạo ấy đượm tình nghĩa thầy trò của người miền Nam, nhưng nó tố cáo một cách gián tiếp chế độ bất nhân ấy.

Cái còn lại như chứng tích duy nhất của nền Đệ Nhất Cộng Hòa để lại cho ông là căn nhà của ông ở làng đại học Thủ Đức, số 17 đường công lý, phường Bình Thọ, quận Thủ Đức, Sài gòn. Chính nơi đây con cái ông lớn lên, được nuôi dưỡng ăn học và nay là cái mái che mưa nắng cho ông lúc tuổi xế chiều[1]

Sự đãi ngộ ấy có thể ông không bao giờ muốn nhìn nhận, có thể ông chỉ coi như một điều đương nhiên là như thế..

Nay được biết ông lại bị  bệnh lãng trí nặng, đi lang thang quên cả lối về nhà. Chắc nhiều bạn bè thương cảm và buồn cho ông.

Buồn thì đúng rồi.

Nhưng với tôi, tôi nghĩ nó lại là cơ may, là nguồn hạnh phúc cho riêng ông.

Nếu ông còn trí nhớ, còn biết vui buồn, còn biết phân biệt thị phi nhìn thấy cảnh đất nước như ngày hôm nay- như trường hợp luật sư Lê Hiếu Đằng- thì có khi  đến chết ông cũng không nhắm mắt được.

Lý Chánh Trung hơn ai hết là một giáo sư triết hiểu sự mất trí nhớ đôi khi lại là là con đường giải thoát cho riêng ông.

Mới đây nhất, cậu con trai út Lý Trung Dũng, sinh năm 1970, phóng viên báo Tuổi Trẻ trước đây bị xe ô tô cán, sau nhiều năm chữa trị đã qua đời ngày 22 tháng11-2013.

Cuộc sống vắn vỏi ấy kết thúc một cuộc đời-kết thúc cả cuộc đời tuổi trẻ đến phi lý- phải chăng Lý Trung Dũng như một con chiên làm vật hiến tế thay cho bố?

Tin chắc là ông buồn vô kể. Như một phần đời của ông không còn nữa. Tôi còn nhớ, đến thăm ông, tiếng kêu của Dũng ở trong nhà vọng ra ngoài phòng khách, ông làm như thản nhiên tiếp tục nói chuyện.

Khi buổi chiều ra về, lòng tôi chùng xuống một nỗi buồn. Trên tay cầm cuốn: Một thời bom đạn, một thời Hòa Bình. [2]

Lý Chánh Trung trước 1975, khi viết thường luôn luôn kết án chế độ tư bản bóc lột, đã làm tha hóa con người. Theo ông,con người bị vong thân trở thành những công cụ. Đó là hình ảnh  của những con sen, thằng ở, cô vũ nữ, anh bồi, anh tài xế.. những người lao động là nạn nhận nằm trong mối tương quan :ông chủ- thằng ở.

Hoàn cảnh ấy so với người trí thức miền Nam trở thành công cụ cho chế độ cộng sản thì có khác gì? Nghĩ tới hoàn cảnh người trí thức miền Nam, miền Bắc- hoàn cảnh của một Lý Chánh Trung hiện nay thì  cũng chỉ là một công cụ của chế độ? Nói huỵch tẹt là một thứ nô lệ tệ hơn nô lệ. Bảo sao thì phải nói vậy.

Có bao giờ Lý Chánh Trung nghĩ rằng chính ông hiện đang vong thân, tự đánh mất phẩm tính, nhân cách con người, trở thành những con vẹt biết nói?

Vì thế, tôi thiết nghĩ cần có một bài viết đầy đủ về ông- như một nhân chứng sáng giá nhất cũng như bi kịch nhất- của một trí thức miền Nam đã  tự vong thân cho cộng sản và nếu không nói bây giờ thì còn có dịp nào để nói?

Một lần nữa, tôi muốn đi lại hành trình trí thức cũng như những hoạt động thời VNCH và thời sau 1975 của ông.

Đó là hai thời kỳ, hai chặng đường của một người trí thức tiêu biểu của miền Nam.

Hai thời kỳ ấy, ông đã diễn dịch và phân định bằng hai biểu tượng là:  Một Thời đạn bom. Một thời Hòa Bình.[3]

Một thời đạn bom được hiểu là một thời oan trái do bom đạn Mỹ gây ra. Và một thời Hòa Bình, thời sau 1975 mà dân chúng được hưởng tự do, an bình, hạnh phúc, ấm no.

Thật là mỉa mai quá. Thời bom đạn vì ai nên nỗi. Và thời Hòa Bình, hạnh phúc nơi mô? Hòa bình kiển nào, cho ai sau 1975?

Sự phân hai thời kỳ của Lý Chánh Trung đã giản dị hóa đến cùng cực thực tế đau buồn của cả hai thời kỳ. Nó chỉ còn là những tuyên truyền đầy cảm tính.

Cuộc chiến được tô vẽ như  một bên thật giầu, thật lớn, thật mạnh, một bên thật nghèo, thật nhỏ, thật yếu. Một bên thả bom, một bên hứng bom. Một bên đi giầy, một bên chân không, một bên mập lù, một bên ốm nhách. Một bên cỡi máy bay, một bên chạy bộ…Và cứ thế, trong năm năm trời, không bên nào thắng bên nào..

Và ông có một giấc mơ được huyễn hoặc:

Trên đỉnh núi Sọ, trơ vơ một cây thập giá. Trên cây Thập giá, có một người bị đóng đinh đang hấp hối.. Chung quanh người bị đóng đinh vần vũ một bầy kên lông trắng, lông vàng với những cái cánh bao la che kín mặt trời..

Tôi đến dưới chân Thập giá, ngước mắt nhìn lên.

Người bị đóng đinh là dân tộc tôi. [4]

Đọc những dòng trên, tôi có cảm tưởng  Lý Chánh Trung chả thua gì một Tố Hữu ngoài Bắc.

Tôi không nói oan cho ông đâu. Những Lê Hiếu Đằng, những ông Hồ Ngọc Nhuận, những Lý Quý Chung cũng đã từng là những con vẹt biết nói tiếng người như thế cả. Trách ai bây giờ?

Lý Quý Chung trong một dịp trả lời phỏng vấn của Alain Ruscio nhận xét :

‘ Như phần đông những người bạn tôi ở đây, tôi đã sống nghiệm trải hai chế độ báo chí..Trước đây chúng tôi đã là những người thợ bửa củi, còn bây giờ, chúng tôi là những người thợ mộc. Thái độ đã hoàn toàn khác. Bây giờ chúng tôi lao mình vào việc xây dựng. Bây giờ tôi cảm thấy mình có ích cho xã hội hơn cho Việt Nasm, cho dân tộc tôi, liên hệ gắn bó với dân tộc, trách nhiệm hơn’.[5]

Hãy cứ hỏi 700 tờ báo hiện nay ở VN họ là thợ bửa củi hay họ là thợ mộc?

Chính vì làm báo kiểu thợ mộc Lý Quý Chung mà khi giáo sư Trần Văn Giàu đến thăm  tòa báo Tin Sáng lần đâu tiên đã đưa ra lời nhận xét khen mà mỉa mai như sau :

‘ Các anh làm báo cộng sản Như… Cộng sản

Lần sau ông đến khen nhiều hơn :

Các anh làm báo cộng sản Hơn.. cộng sản.[6].

Lời khen này nếu hiểu ra thì quả thực Trần Văn Giàu quá hiểu cộng sản cũng như quá  hiểu những kẻ nịnh cộng sản.

Có nghĩa là các anh nịnh giỏi quá.

Vì thế, Hồ Ngọc Nhuận khi viết cuốn Hồi Ký Đời, đã ghi chú thêm : Chuyện về những người tù của tôi Những người tù ở đây là ai? Là Nguyễn Ngọc Lan, là Lý Chánh Trung, là Lê Hiếu Đằng, là Ngô Công Đức, là Dương Văn Ba, là Nguyễn Hữu Hiệp mặc dầu họ chưa đi tù một ngày nào trong chế độ mới.

Nói chung, đọc hết các sách của Lý Chánh Trung  như Tìm Về Dân tộc, Tôn Giáo và Dân Tộc, Những Ngày Buồn Nôn. Tôi chỉ thấy những lời nguyền rủa và xưng tụng.

Nó thiếu vắng một nụ cười .

Để cho việc vẽ lại chân dung và diện mạo cũng như hành trình nhận thức hay hành trạng cuộc đời Lý Chánh Trung được đầy đủ, xin chia bài viết làm hai phần:

- Lý Chánh Trung trước 1975- Thời đạn bom

- Lý Chánh Trung sau 1975- Thời Hòa Bình

1.- Cuộc đời Hoạt động của ông trước 1975

Lý Chánh Trung và những người trí thức công giáo

Ông đã tự vẽ chân dung của mình là khi từ Bỉ về nước, ông đã về quê ở Vĩnh Bình và dạy cho một trường học là cơ sở của Cách mạng. Một thời gian ngắn sau ông lên Sài Gòn..Năm 1955, ông từ bỏ Vĩnh Bình- quê ông- và gia nhập vào trong nhóm trí thức công giáo Pax Romana với các quý ông như  bs Nguyễn Văn Ái, lm Nguyễn Bình An( qua đời rất sớm vì bệnh cancer) bs Nguyễn Văn Thơ, luật sư Nguyễn Văn Huyền, các giáo sư Phạm Thị Tự, Phó Bá Long, Trần Long, các chuyên viên như Lâm Võ Hoàng, Anh Tôn Trang, Võ Long Triều, Đoản Thanh Liêm vv

Nhóm này đã tổ chức’ Tuần lễ Hội Học công giáo ‘ và và cho ra ‘ Tủ sách Đạo và Đời »

Đây là giai đoạn hiền lành và trong sáng nhất của một người trí thức như ông. Nó tiêu biểu cho giới trí thức công giáo thành thị mà phần đông du học ở ngoại quốc về.

Sau đó do sáng kiến phần lớn của Nguyễn Đình Đầu để thể hiện tinh thần Công đồng Vatican 2, ông cùng với Nguyễn Văn Trung Nguyễn Đình Đầu, Anh Tôn Trang chủ trương tờ tuần báo Sống Đạo. Trụ sở tờ báo là mượn văn phòng xã hội của linh mục Parrel, trên đường Nguyễn Du, cạnh nhà thờ Đức Bà.

Tổ chức tờ báo có hai bộ phận. Bộ phận viết bài chủ lực là Nguyễn Văn Trung, Lý Chánh Trung, Nguyễn Đình Đầu, Anh Tôn Trang., Bộ phận phát hành do các anh em trong phong trào Thanh Sinh Công, do anh Phong trách nhiệm đi các giáo xứ. Anh Phong đã ra đi rất sớm khi còn trẻ . Thật đáng tiếc một con người hoạt động xông xáo, lúc nào cũng vui vẻ nhanh nhẹn. Tinh thần của anh Phong  là phục vụ-. phục vụ cho xã hội, cho con người- và cũng là vâng theo Chúa của anh.

Sau đây, xin trích dẫn vài bài báo của Lý Chánh Trung đã được đăng trên Sống Đạo vào các tháng 7,8,9 năm 1962 như :

  • Thân Phận tôi đòi
  • Ông chủ xe hơi và cô thư ký-
  • Hai giới thanh niên
  • Những gót chân non

Các bài viết của Lý Chánh Trung trong thời kỳ này đã có những ám ảnh mà chủ yếu đặt nặng vấn đề Công Bằng Xã hội- một đề tải quen thuộc và được ông khai thác nhiều lần-. Nó  phản ánh một phần các tư tưởng xã hội của chủ nghĩa Mác Xít trong đó có các vấn đề Cần Lao, vấn đề Vong Thân, vấn đề  Bạo động tranh đấu giai câp, vấn đề Bóc lột giữa chủ và thợ  ..vv..

Những ý tưởng then chốt về công bằng xã hội sẽ là những bước mở đường cho Lý Chánh Trung một ngày không xa đến thực sự với cộng sản.

Nói như thế chỉ là hoàn cảnh đặc biệt dành cho Lý Chánh Trung thôi.. Những sinh viên nào ngồi trên ghế nhà trường đã bước qua cổng trường của Platon thì không có gì xa lạ với những chủ đề xã hội trên

Tôi còn nhớ, lúc bấy giờ Báo Sống Đạo bán rất chạy, gây được tiếng vang lớn. Ai cũng hăng say tin tưởng từ anh em viết bài chủ lực, đến các sinh viên và đến anh em phụ trách phát báo.. Phản ứng của độc giả thì nhiều- đủ loai khen chê tức giận cũng có, đôi khi cấm bán báo nữa.-

Phần Lý Chánh Trung được đề nghị làm chủ bút. Nhưng ông thừa biết, bọn trí thức Bắc Kỳ công giáo làm hết mọi chuyện:-Từ sáng kiến cũng do họ- tổ chức do họ- phương tiện vật chất do họ tự liệu- viết cũng do họ. Nhưng họ vẫn đẩy ông ra làm người đứng đầu.. Sau này cũng thế khi làm các tờ Hành Trình, ông vẫn giữ vai trò chủ bút. Nguyễn Văn Trung vai chủ nhiệm. Việc thì người khác làm, danh xưng thì ông nhận.[7]

Và nhóm trí thức này  cũng đã tổ chức được một tuần lễ Hội học xã hội dưới nhan đề: Lương tâm công giáo và công bằng xã hội vào năm 1963, do nhóm Trí thức công giáo Sài gòn. Điều hành và tổ chức cũng do tụi công giáo Bắc Kỳ làm hết. Nhưng bài thuyết trình khai mạc cũng dành cái vinh dự đó cho ông..Với sự góp mặt của Lý Chánh Trung, Trần Văn Toàn, Trần Long, Anh Tôn Trang, Võ Long Triều, Mai Văn Lễ, Lm Nguyễn Bình An, Nguyễn Văn Trung.

Lý Chánh Trung với bài tham luận khai mạc: Sự phát triển của ý niệm Công Bằng trong lịch sử. Nguyễn Văn Trung là người kết thúc tuần lễ hội thảo với:Trách nhiệm hiện tại của người công giáo. [8]

Xin lưu ý là trong tuần lễ Hội thảo này, ban tổ chức đã chỉ mời giới chưc lãnh đạo tôn giáo như TGM Nguyễn Văn Bình, cả Khâm sứ tòa Thánh.. Nhưng đã không mời đại diện chính quyền như ông Trần Kim Tuyến hay Ngô Đình Nhu..

Điều đó muốn nói lên tính cách độc lập của buổi Hội thảo. Và họ củng thừa biết rằng, dù có mời, ông Ngô Đình Nhu cũng không đi dự vì ông không muốn dính dáng vào sinh hoạt của tôn giáo…

Cặp Nguyễn Văn Trung- và Lý Chánh Trung

Ông Lý Chánh Trung là một trong số những người công giáo hiếm hoi gốc Nam Kỳ. Những người khác  phần đông gốc Bắc như Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Đình Đầu, Nguyễn Huy Lịch, bác sĩ Nguyễn Văn Ái. Cũng vì thế nên dân gốc Bắc đã không ngần ngại đề cử ông làm chủ bút tờ Sống Đạo..Có lần tức mình ông nói huỵch tẹt ra: tụi bay làm hết đem tao ra làm cái bung xung thôi..

Mọi người đều cười xòa. Để ông làm chủ bút là điều chí phải. Nhưng bên trong  là Nguyễn Đình Đầu điều động từ A tới Z.

Bước mở đầu, ông và họ gây được tiếng vang và sự chú ý của giới trí thức công giáo và ngoài công giáo.. Phạm vi hoạt động của họ mang tính giới thiệu mở đường theo tinh thần Công Đồng Vatican hai, gợi ý đề nghị, trình bầy và chưa có dấu tích một ẩn ý chính trị của phe phái nào.

Giữa Nguyễn Văn Trung và Lý Chánh Trung dù là một cặp, nhắc tới người này là nhắc tới người kia. Nhưng Lý Chánh Trung chẳng hiểu sao được mọi giới trân trọng.

Có thể nói thêm cả công giáo, Phật giáo và người cộng sản miền Bắc đều phê phán Nguyễn Văn Trung.. Hà Nội qua giáo sư Trần Văn Giàu và một số cây viết phê bình văn học như Thái Kế Toại, Phong Hiền, Tam Thanh, Trần Trọng Đăng Đàn đã chỉ chĩa mũi dùi vào một mình Nguyễn Văn Trung mà thôi.

Bây giờ thì chúng ta hiểu rằng bị cộng sản miền Bắc xúm vào chửi chưa hẳn đã là điều xấu, có thể là ngược lại. Họ chửi vì nhiệm vụ bổn phận phải làm. Không lạ gì khi vào miền Nam sau 1975, việc đầu tiên  của giáo sư Trần Văn Giàu là đi tìm Nguyễn Văn Trung để nói chuyện.

Lúc gặp nhau như thế Trần Văn Giàu mới là Trần Văn Giàu.

Sống trong chế độ cộng sản, thường người nào cũng mang hai nhân cách, hai cách thể hiện. Một nhân cách xã hội để chường ra cho mọi người biết mà thường là nhân cách giả, không thật.- Nhân cách kịch-.

Một nhân cách thứ hai là nhân cách con người sống thực với lòng mình. Và cũng thật khổ cho con người cùng một lúc phải đóng hai nhân cách.

Mặc dù dư luận VN không mấy thiện cảm với Ngyuển Văn Trung- trừ giới sinh viên trí thức-.

Nhưng đối với trí thức Tây Phương  hay Việt Nam tại Paris hay trí thức Mỹ thì Nguyễn Văn Trung được đón nhận với trân trọng nhiều hơn. Một số sinh viên trí thức trẻ Việt Nam coi các tờ Hành Trình của Nguyễn Văn Trung như căn bản lý thuyết để hội thảo hay tranh luận như một thứ Table Ronde(Hội nghị bàn tròn). Họ gửi tiền về cho Nguyễn Văn Trung để ông gửi tài liệu sách báo sang Pháp cho họ đọc.

Trong số những người quý mến và trân trọng Nguyễn Văn Trung, xin nhắc tên một người : Đó là giáo sư Tạ Trọng Hiêp, nhà nghiên cứu Hán Nôm, học trò Hoàng Xuân Hãn ở Paris. Ông thường làm sứ giả trung gian gửi những tài liệu, báo chí của Nguyễn Văn Trung về Hà Nội và ngược lại gửi những thư từ tài liệu có liên quan đến Nguyễn Văn Trung từ Hà Nội về Sài Gòn. Ông cung cấp tin tức, trao đổi tài liệu của Pháp hoặc những tác giả người Pháp mà Nguyễn Văn Trung không có dịp biết tới và góp ý kiến về những bài viết của Nguyễn Văn Trung.[9]

Đó là đường giây’buôn lậu Văn Hóa’ giữa hai miền Nam-Bắc trong thời kỳ chiến tranh mà ít người được biết đến.[10]

Trường hợp khác là chủ bút tờ Esprit, ông J.M Domenach lúc bấy giờ, địa chỉ 19 rue Jacob viết bài tranh luận và trao đổi với Nguyễn Văn Trung trong một bài viết của Nguyễn Văn Trung nhan đề : Sự thất bại của Chủ Nghĩa Nhân vị.( Échec du Personnalisme).

Cuộc tranh luận giữa hai người trí thức Việt-Pháp này ở miền Nam cũng ít ai được biết, trừ một thiểu số nhỏ giới trí thức Việt Nam ở Paris như Tạ Trọng Hiệp.

Có những sinh viên Mỹ như David G. Marr, sau này là nhà sử học với cuốn sách đáng nể viết về Việt Nam : Viet Nam 1945, The Quest for power.[11] David Marr có sang Việt Nam mấy tháng và có dịp  đọc một số bài viết của Nguyễn Văn Trung qua trung gian một số bạn sinh viên trẻ như Nguyễn Quốc Thái, Đặng Tiến. Những người này đã giới thiệu David Marr về Nguyễn Văn Trung và tờ Hành Trình và có thể họ đã  dịch những bài tham luận của Nguyễn Văn Trung sang tiếng Mỹ cho David Marr. Khi về Mỹ, ông đã trao đổi với các giáo sư của ông, họ hoan hỉ  phổ biến các bài viết đó nơi các giới sinh viên và giáo sư Đại Học Mỹ, phổ biến trên các tập san Journal of Asian Studies và Asian Survey.. và phổ biến tại đại học Berkeley, California, nơi David Marr theo học.

Các bài báo ấy cũng được người Mỹ đăng lại trên tờ America, do các cha  dòng Tên, chủ bút là linh mục Donald Campion, địa chỉ 106 W. 56th St, New York, 10019.[12]

Trong khi đó, Lý Chánh Trung được cả giới lãnh đạo công giáo và Phật giáo quý trọng, tin tưởng. Đại học Đà Lạt qua linh mục viện trưởng Nguyễn Văn Lập là một tỉ dụ.

Khối Phật giáo Ấn Quang cũng là nơi lui tới thường xuyên của Lý Chánh Trung trong các buổi hội họp, cầu siêu, mít tinh. Chẳng những thế, ông cũng có thể được coi như người tin cậy của khối Phật giáo Ấn Quang như TT. Trí Quang.

Họ thật sự chỉ hoạt động chung với nhau từ thời gian 1962 đến 1968 là cùng.

Từ 1955 đến 1960, Nguyễn Văn Trung đã viết nhiều về văn học nhất là triết học hiện sinh. Viết có vẻ dễ dàng, dễ đọc và lôi cuốn, cộng tác với các báo như Sáng Tạo, Bách Khoa và đã có tiếng tăm nơi giới trì thức trẻ. Các tập Nhận Định I, Nhận Định II và Nhận Đinh III gây được nhiều tiếng vang tốt trong giới trí thức  Sài Gòn. Ông được coi như người mở đường cho Triết Học chủ nghĩa Hiện Sinh vào miền Nam. Ngoài ra ông còn là tác giả các tác phẩm như : Chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam, Lược khảo Văn Học I. Tổng cộng ông có hơn 20 đầu sách biên khảo về Văn Học, Triết học đã được nhiều sự hưởng ứng của giới trẻ thành phố Sài Gòn.

Trong khi đó, giai đoạn 1955-1960,  Lý Chánh Trung hầu như chưa viết được mấy và ông chỉ thực sự có tiếng tăm khi bắt đầu cộng tác viết cho Sống Đạo..

Cuốn sách xuất bản đầu tiên của ông Cách Mạng và Đạo Đức (1966) không gây được tiếng vang  bao nhiêu. Nội dung cuốn sách thật ra chỉ là in lại một cours Triết trong chứng chỉ  Luận Lý và Đạo đức của ông.

Sau khi ông Diệm bị lật đổ, ông viết cuốn Ba năm xáo trộn(1967). Cuốn tìm về Dân Tộc ( 1967) bộc lộ một quan điểm chính trị tìm một giải pháp cho vấn đề VN.. Nhưng hầu hết nội dung cuốn sách gom góp các bài báo ông đã viết.

Tiếng tăm của Lý Chánh Trung nay được mọi người chú ý.

Sau này, dù cho có hoạt động chung trên Đất Nước, Hành Trình, Trình Bầy.. Sự chọn lựa của Lý Chánh Trung đi theo MTGPMN cho thấy những bài viết ấy chỉ phản ánh quan điểm riêng của ông..

Muốn biết quan điểm chính trị của ông thì phải đọc những bài ông viết cho tờ Tin Sáng, gồm 50 bài trong vòng một năm trời. Đây là thời điểm Lý Chánh Trung đã dứt khoát chọn đứng về phía bên kia và chắc hẳn viết theo chỉ thị hay đơn đặt hàng. Tất cả những bài ấy sau này được gom lại trong một tuyển tập nhan đề: Những ngày buồn Nôn, in năm 1971.

Tóm lại giữa Nguyễn Văn Trung-Lý Chánh Trung- mặc dầu có một số quan điểm đồng thuận.. Nguyễn Văn Trung vẫn là một nhà biên khảo, nhà nghiên cứu với một một văn phong lý luận sắc bén và thuyết phục.

Lý Chánh Trung hơn ai hết là một nhà báo một người hành động.- Lối viết của ông dựa trên sự việc và đượm cảm tính gây ấn tượng và tạo được sức lôi cuốn không nhỏ nơi người đọc.

Hai người ấy- mỗi người một văn phong- một tài hoa- cộng lại thì phải nói là rất tốt. Họ bổ túc cho nhau.  Và nếu có nhiều người – nhất là bạn đoc- tưởng nhầm họ là những đôi bạn chí thân, đồng hành thì điều ấy không hẳn là sai.

Nhưng bổn phận của tôi thấy cần phải nói ra là không hẳn đúng như vậy. Bạn chí thân của Lý Chánh Trung có thể là những người trong nhóm Tin Sáng. Ngay cả dù có nhận như thế, tôi cũng nhận ra thêm một điều,là những người bạn của Lý Chánh Trung chỉ có tính cách giai đoạn. Mỗi giai đoạn hoạt động là mốt kết nối, và mỗi giai đoạn là một loại bạn

Nhìn lại những năm tháng ấy, phải nhìn nhận họ đã ảnh hưởng nhất định trên giới trí thức trẻ miền Nam. Riêng Nguyễn Văn Trung được coi là người đi hàng đầu lôi kéo nhiều trí thức, nhà văn cộng tác với ông trên tờ Đất Nước, Hành Trình và Trình Bày.

Trong số ấy, phải kể đến Nguyên Sa, Trần Bích Lan –mặc dù là một nhà thơ nổi tiếng-, ông đã chia sẻ những quan điểm chính trị của Nguyễn Văn Trung và là cây bút quan trọng nhất trên tờ Đất Nước cùng với Thảo Trường.

Mặc dù không phải là bạn như trong giới văn Nghệ sĩ, thường sinh hoạt chung. Nhưng đụng có chuyện là Nguyên Sa trở thành cây bút đao búa, đập bất cứ ai đung đến Nguyễn văn Trung.  Trường hợp Duyên Anh phê bình Nguyễn Văn Trung, Nguyên Sa đã để cả tháng trời đả kích Duyên Anh- một cây Thương Sinh của báo Con Ong- Cho đến khi chính Duyên Anh phải  lên tiếng ngỏ lời xin lỗi.[13]

Sau này, ở Hải ngoại, Nguyên Sa xếp Nguyễn Văn Trung vào một trong bốn dòng văn học chính ở miền Nam…

Tuy nhiên, về mặt chính trị, Cả Nguyễn Văn Trung và Lý Chánh Trung lúng túng trong những quan điểm và những chọn lựa thật sự không rõ ràng, có thể gây nhiều ngộ nhận và có thể đã tạo ra những ảo tưởng tai hại tới khôn lường.

Chẳng hạn, họ đề ra một lập trường chính trị ảo tưởng- không chọn bên này bên kia- một lập trường đứng giữa,  khi mơ ước một Xã Hội chủ nghĩa không cộng sản!

Nhưng lịch sử đã định cho mỗi người một hướng đi. Sự chọn lựa cách dấn thân nhập cuộc biến thành  hai số mệnh đời họ..

Sau 1975, Nguyễn Văn Trung ngồi tù tưởng sẽ tiêu tan cuộc đời rồi cuối cùng được con bảo lãnh- ra được hải ngoại, sống cuộc đời còn lại thảnh thơi và thông thoát..

Lý Chánh Trung chọn con đường đi theo đảng cộng sản- tưởng rằng đó là tất cả lý tưởng đời minh.

Ở một thời điểm nào đó, người ta tưởng lầm rằng chủ nghĩa Mác xem ra có tác động lôi cuốn, có sức  tác động vào lịch sử..có khả năng giải thoát cho con người, giải quyết mọi mâu thuẫn xã hội!!! Tưởng như thế là nhầm.

Vì thế, ngày nay đã rất nhiều người hoài nghi điều ấy. Và họ muốn tách ra khỏi quỹ đạo Đảng vốn được coi là cội nguồn cũa những thất bại về kinh tế cũng như xa đọa đạo đức con người. Sự xa đọa ấy đến ngoài sự suy nghĩ của mọi người. Như cảnh tượng con đâm mẹ ngoài đường phố, trò đánh thầy, thầy lợi dụng học trò con gái đi làm điếm

Trước đây Proudhon đã từng nói: Toute synthèse est gouvernementale. (Mọi tổng hợp đều có tính cách chính quyền- nghĩa là dộc đoán-.

Mà chủ nghĩa cộng sản là thu tóm, tổng hợp và vì thế nó là độc đoán.

Tham vọng ấy sẽ tự hủy chế độ cộng sản vì nó chống lại bản tính con người.

Lý Chánh Trung- một trí thức vào cuối đời dã nếm đủ tưởng rằng chẳng những sinh mệnh chính trị của ông bị tiêu hủy mà chính cái mạng sống của ông cũng không giữ được trước lời đe dọa bóng gió của Nguyễn Văn Linh sau vụ Bão tố tận diệt mầm mống phản động của những phần tử trong nhóm nhóm Những người Kháng chiến cũ.. Ông đã vội vã viết thư phân trần, giải thích gì đó. Nội dung không ai biết được.

Theo lời luật sư Đoàn Thanh Liêm khi đến thăm Lý Chánh Trung, Ông Trung đã khoe bức thơ Nguyễn Văn Linh gửi cho ông nhằm mục đích trấn an ông.[14].

Bức thơ ấy như lá bùa hộ mạng ông, giúp ông yên tâm sống nốt cuộc đời còn lại.. Nhớ lại trong 20 năm miền Nam, ông bất mãn, ông phê phán, ông miệt thị đủ người từ ông tổng thống trở xuống.

Ông chửi mà không sợ, vì biết rằng chế độ miền Nam không dùng bạo lực, không đưa ông đi tù, không ám hại người trí thức.

Trên con đường từ Sài Gòn về cư xá làng Đại học Thủ Đức, sau một ngày vật lộn tranh đấu, mít tinh, xuống đường, đối đầu với lựu đạn cay và hàng rào kẽm gai, đối đầu với Nguyễn Ngọc Loan và sau này với Trang Sĩ Tấn, ông bình thản lái xe về nhà vì biết chắc không hề sợ có kẻ ám toán, giết hại ông.

Nay chỉ cần một lời đe dọa bâng quơ bóng gió đủ làm ông sợ rét run.

Nhất là lúc cuối đời xem ra ông không khỏi có nhiều điều ân hận không nói ra được.

Nói tóm gọn thì cả hai lúc cuối đời đều đã để lại hai nhận xét thời danh đáng ghi nhớ :

  • Phần Nguyễn Văn Trung nói : Tham gia  Cách mạng là tham gia vào một quá trình tự tiêu diệt chính mình sau này.
  • Phần Lý Chánh Trung, phát biểu: Về một môn học mà thầy không muốn dậy, trò không muốn học.

(Còn tiếp)


[1] Làng Đại Học Thủ Đức được thành lập là do một dự án của ông Ngô Đình Nhu muốn đưa một số phân khoa Đại học lên Thủ Đức như một thứ Campus của Tây Phương. Nhưng chỉ mới xây dựng bước đầu làng Đại Học cho các giáo sư thì ông bị thảm sát năm 1963. Chương trình tốt đẹp ấy giống như nhiều chương trình xã Hội khác bị bỏ dở. Khu đất làng Đại Học là do đất mua lại của nông dân với giá rẻ. Các giáo sư được  cho  vay một số tiền rồi được tùy ý xây cất theo ý thích của mỗi người.

[2]  Lý Chánh Trung, Một thời đạn bom, Một thời Hòa Bình. Nxb Đồng Nai. Đây là cuốn sách được xuất bản sau 1975 được chính quyền cộng sản cho xuất bản cùng với cuốn Hồi Ký của Lý Quý Chung. Các cuốn  Hồi Ký khác của Dương Văn Ba và Hồ Ngọc Nhuận bị cấm xuất bản. Nhưng Hồ Ngọc Nhuận vẫn cho in chui, dưới dạng photocopy. Tôi có được một ấn bản này.

[3] Nội dung cuốn sách chắc được xào nấu kỹ càng chỉ có hai mặt : Chê và khen.. Chê miền Nam trước 1975 và khen chế độ XHCN sau 1975 với nhiều phần sai sự thật, lấp liêm, bất công nếu không nói là xuyên tạc.

[4]  Lý Chánh Trung, Những ngày buồn nôn, bài : Bầy kên kên và cây thập giá, trang 160

[5] Alain Ruscio, Vivre au Viet Nam, trang 177

[6] Hồ Ngọc Nhuận, Hồi Ký Đời, bản thảo, trang 73

[7] Tở Hành Trình, tuy chỉ xuất bản được mười số, Nhưng lại gây tiếng vang nhiều nhất. Một bản tin của A.F.P, ngày 12-11-1965 đã đưa tin như sau : Son dernier reproduit un article de revue littéraire mensuelle ‘Itinéraire’ qui semble etr le porte-parole des milieux univertsitaires et intellectuels. (Số ra cuối cùng của tờ báo(chỉ tờ sinh viên Huế) đã in lại một bài bài báo Hành Trình, một tờ báo được coi như phát ngôn viên cho giới Đại Học và trí thức)

[8] Trích Tuần Lễ Hội Học 1963. Nhóm Trí thức công giáo sài Gòn. Lương Tâm Công Giáo và Công Bằng Xã Hội, dưới sự bảo trợ của Tổng Giám Mục giáo khu Sài Giòn,  nxb Nam Sơn

[9] Đáng nhẽ, Tạ Trong Hiệp đã nhận lời mời của Nguyễn Văn Trung về dạy tại Đại hoc Văn Khoa Sài Gòn. Nhưng ông bị một ký giá báo Tiền Tuyến viết xuyên tạc về ông ngày 16-10-1969. Ông bỏ ý định về dạy học. Ông đã  qua đời năm 1996 (1933-1996).[9]

[10] Tờ Hợp Luu đã dành một số báo, số 34 tháng 4&5- 1997 để tưởng niệm học giả Tạ Trọng Hiệp, một trong những trí thức hiếm hoi về văn học cỏ mà tiếc thay rất ít người biết tới. Số người biết về ông ngoài một số nhà nghiên cứu Hán- Nôm ở Hà Nội như quý ông Ngô Đức Thọvv và một  ít oi trí thức tại Phápvv

[11]  David Marr, Viet Nam, 1945, The Quest for Power là một cuốn sách biên khảo rất quan trọng về giai đoạn Việt Minh lên nắm Chính quyền  trong bối cảnh tranh chấp giữa Pháp, Nhật và tình thế lúc bấy giờ.. Sau mấy chục năm David Marr vẫn còn giữ sự trân trọng ấy với Nguyễn Van Trung, Ông tìm cách liên lạc với  bà sử gia Sophie Queen-Judge, tác giả cuốn sách viết về Hồ Chí Minh, The missing years. David Marr gửi chút tiền mọn biếu Nguyễn Văn Trung..

[12] Trích Hồ sơ Hành Trình, Sài Gòn 1964-1965, nxb Nam Sơn, 2000

[13] Nguyễn Van Trung, Nhận Đinh X- Nguyên Sa , một người bạn, trang  148

[14]  Đoàn Thanh Liêm, Nỗi khó xử của Giáo sư Lý Chánh Trung,, danchimvietonline.net, 25-08-2013

© Nguyễn Văn Lục

  © Tác Giả Gởi Bài Dến Ban Biên Tập

 ©  Diễn Đàn Người Dân Việt Nam

Share

scroll back to top
 

TIN MỚI NHẤT