DIỄN ĐÀN NGƯỜI DÂN VIỆT NAM

XÂY DỰNG CÔNG BẰNG THỊNH VƯỢNG NHÂN BẢN

Thư số 30a gởi:Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam_Phạm Bá Hoa.
E-mail Print

                                                                      

Tôi chào đời năm 1930, vào quân đội Việt Nam Cộng Hòa năm 1954, chống lại cuộc chiến tranh do nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa gây ra. Trong bang giao quốc tế, quốc gia này đánh chiếm quốc gia kia, không có tên gọi nào khác ngoài hai chữ “xâm lăng”. Sau ngày 30/4/1975, lãnh đạo cộng sản Việt Nam với lòng thù hận đã đày đọa chúng tôi trong hơn 200 trại tập trung mà họ gọi là trại cải tạo, hằng trăm Bạn tôi đến 17 năm, riêng tôi là 12 năm 3 tháng. Tuy tên Quốc Gia và Quân Lực mà tôi phục vụ không còn nữa, nhưng linh hồn trong quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ vẫn nguyên vẹn trong tôi. Tôi không hận thù lãnh đạo Các Anh, nhưng tôi không bao giờ quên quá khứ đau thương tàn bạo mà họ gây ra cho Tổ Quốc, Dân Tộc!  Vì vậy mà tôi chưa bao giờ, và sẽ không bao giờ về Việt Nam cho đến khi quê hương tôi có một chế độ dân chủ tự do thật sự.

Các Anh là Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam. Xin gọi Người Lính Quân Đội Nhân Dân ngắn gọn là “Các Anh” để tiện trình bày. Chữ “Các Anh” viết hoa  mà tôi sử dụng ở đây, bao gồm từ người lính đến các cấp chỉ huy, ngoại trừ lãnh đạo cấp Sư Đoàn, Quân Đoàn, Quân Chủng, Bộ Tổng Tham Mưu, và Bộ Quốc Phòng. Là Người Lính trong quân đội “Nhân Dân”, Các Anh phải có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc Nhân Dân, vì Tổ Quốc với Nhân Dân là trường tồn, trong khi đảng cộng sản hay bất cứ đảng nào cầm quyền cũng chỉ một giai đoạn của lịch sử, và nội dung tôi gởi đến Các Anh được đặt trên căn bản đó.

Với thư này, tôi muốn nói với Các Anh về nét nhìn của tôi về cái gọi là “hòa giải hòa hợp” mà ông Thứ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Thanh Sơn, từ Việt Nam sang Canada và Hoa Kỳ rao giảng hồi tháng 3 vừa qua (2004), giống như ông Thứ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Đình Bin năm 2003, ông cựu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt năm 2005, ông Thủ Tướng Phan Văn Khải năm 2005, ông Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết năm 2007, ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng năm 2008 và 2014 của Các Anh, liên tục kêu gọi Cộng Đồng chúng tôi tị nạn cộng sản mang khối nhân lực, khối kiến thức, và khối tài sản về Việt Nam mà xin họ cho chúng tôi được sống dưới chế độ “xin và cho” của họ, mà họ là lãnh đạo cộng sản độc tài.         

Thứ nhất. Lãnh đạo CSVN lại kêu gọi hòa giải hòa hợp.

Ngày 21/3/2014, trên trang web <nguyentandung.org>, Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng, ra cái điều như tha thiết khi kêu gọi Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản hòa giải hòa hợp với đảng cộng sản Việt Nam độc tài, như sau:

Cuộc chiến tranh đã đi qua gần 40 năm, tổ quốc, giang sơn đã liền một dải, nhưng vẫn còn một bộ phận người Việt Nam vẫn còn ngăn cách về tình cảm, suy nghĩ … thậm chí vẫn còn lưu giữ hận thù …  Người Việt vẫn chưa thể thực hiện được việc hòa hợp và hòa giải dân tộc, điều mà nhiều dân tộc đã làm rất tốt công việc này, mặc dù đất nước họ cũng đã có thời kỳ chiến tranh và chia rẽ. Đó là nỗi đau lớn của dân tộc Việt Nam. Khi tiếng súng tắt trên chiến trường, lòng người lại ngổn ngang trận mạc. Máu ngừng đổ nhưng hòa hợp vẫn chưa tới. Hòa giải dân tộc được đề ra để người Việt Nam trong một nước có thể đến gần nhau, hiểu về nhau, và tìm về một sự tồn tại mới cùng nhau....”.

Nhìn lại cung cách lãnh đạo văn minh trong hòa giải hòa hợp dân tộc.

Không biết Các Anh nghĩ sao về đoạn văn “Người Việt vẫn chưa thể thực hiện được việc hòa hợp và hòa giải dân tộc, điều mà nhiều dân tộc đã làm rất tốt công việc này mặc dù đất nước họ cũng đã có thời kỳ chiến tranh và chia rẽ”, mà Thủ Tướng Các Anh có ý cho rằng “chưa hòa giải hòa hợp được” là lỗi do Cộng Đồng chúng tôi tị nạn cộng sản tại hải ngoại”.

Vậy, tôi dẫn chứng trường hợp mà Thủ Tướng Các Anh nói đến là “hòa giải hòa hợp dân tộc mà nhiều dân tộc đã làm rất tốt”, là chiến tranh Nam-Bắc của Hoa Kỳ kéo dài trong 4 năm 1861-1865. Lúc ấy, vị Tổng Tư Lệnh quân đội miền Bắc là Tướng Ulysses S. Grant, và vị Tổng Tư Lệnh quân đội miền Nam là Tướng Robert E. Lee  Cuối cùng thì quân đội miền Nam thua trận.

Tổng thống Lincoln thường nói với những vị thân cận là ông mong muốn cuộc chiến kết thúc trong sự khoan dung độ lượng. Bởi vì kinh nghiệm cho ông biết, tấm lòng nhân ái sẽ mang lại cho ông nhiều kết quả hơn là cách hành xử quá cứng rắn. Vì vậy mà khi Tướng Grant hỏi Tổng Thống Lincoln phải làm gì với binh sĩ miền Nam khi họ đầu hàng, thì Tổng Thống trả lời ngay rằng, “hãy để họ được tự do ra về”.

Ngày 9/4/1865. Tại làng Appomattox Court House, Virginia, Tướng Grand ra lệnh một đội quân làm hàng rào danh dự và nghiêm chỉnh đón chào Tướng Lee và bộ tham mưu của ông ấy. Sau khi Tướng Lee ký văn kiện đầu hàng xong, Tướng Grant đã ra nghiêm lệnh cấm binh sĩ miền Bắc không được vui mừng chiến thắng. Tướng Grant giải thích: “Chiến tranh đã kết thúc, bây giờ họ là đồng bào của chúng ta. Điều cả nước đáng ăn mừng không phải chúng ta chiến thắng họ, mà là họ đã trở về lại với Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ”.

Tướng Grant cũng dễ dàng chấp nhận 3 điều kiện mà Tướng Lee đưa ra: (1) Binh sĩ miền Nam được ra về tự do không bị trả thù hay bắt bớ, để họ được yên ổn xây dựng lại đất nước. (2)  Được mang lừa và ngựa theo để làm mùa màng. (3) Được mang theo vũ khí ngắn cá nhân để tự bảo vệ mình.

Ngoài ra, Tướng Grant còn cung cấp lương thực cho một số binh đoàn miền Nam để họ đủ sức trở về quê quán.

Nhìn lại cung cách lãnh đạo độc tài toàn trị của cộng sản Việt Nam.

Tôi nghĩ là Các Anh nên đọc hai hay ba lần về những đoạn văn liên quan đến cuộc nội chiến Hoa Kỳ bên trên, rồi suy nghĩ ... để hiểu một cách sâu sắc về cung cách của người lãnh đạo khi đối xử với bên thua trận. Về phần tôi, sau khi tôi ghi lại những vị lãnh đạo Các Anh đã lần lượt nói về hòa giải hòa hợp theo ý nghĩa là Cộng Đồng chúng tôi tị nạn cộng sản phải tự nhiên quay về hòa giải và hòa hợp với đảng cộng sản Việt Nam, tôi sẽ đưa ra quan điểm về hòa giải và hòa hợp mà họ liên tục kêu gọi.  

Năm 2003. Ông Nguyễn Đình Bin, Thứ Trưởng Ngoại Giao, dẫn một phái đoàn sang Hoa Kỳ  tiếp xúc với người Mỹ gốc Việt tại Washington DC, vào ngày 13/6/2003 tại Ngân Hàng Thế Giới thào luận về kinh tế, và ngày 14/6/2003 tại trường đại học Johns Hopkins thảo luận về chính trị. Số người Việt tham dự tại mỗi nơi là 12 người, nhưng không phải cộng lại thành 24 vì có một số vịi tham dự cả hai buổi. Ông Nguyễn Đình Bin, mở đầu buổi tiếp xúc mà giáo sư Nguyễn Quốc Khải nói là “đối thoại”:

“Đoàn đại biểu sang Hoa Kỳ với hai nhiệm vụ: Thứ nhất. Tiếp tục làm việc với chánh quyền Hoa Kỳ, thúc đẩy hợp tác giữa Việt Nam với Hoa Kỳ. Thứ hai. Tiếp xúc với các người Mỹ gốc Việt, hoặc là người Việt đang làm ăn sinh sống ở Hoa Kỳ. Theo con số thống kê sơ bộ thì có khoảng 2 triệu 7 hay 2 triệu 800 ngàn, đang làm ăn sinh sống tại 90 quốc gia có nền kinh tế khoa học công nghệ tiên tiến .... . Lần đầu tiên, hội nghị trung ương lần 7 ra nghị quyết về đại đoàn kết dân tộc. Những người Việt đang sinh sống và làm việc tại hải ngoại, được đất nước vẫn coi là một phần của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Tuy về đầu tư kinh tế trong nước của người Việt hải ngoại chưa bao nhiêu, nhưng điều quan trọng  hơn cả là chất xám và trí tuệ, và những hiểu biết những kinh nghiệm của các chuyên viên ở nước ngoài,  hiện nay phải nói là cực kỳ quí....”

Các Anh thấy chưa, sau những năm sống trong ảo tưởng “cộng sản sắp thống trị thế giới”, bỗng chợt tỉnh khi cộng sản Liên Sô -thành trì vững chắc của chủ nghĩa xã hội sụp đổ- lãnh đạo Các Anh buộc phải nhìn nhận sự thật về sức sống của Cộng Đồng tị nạn cộng sản tại hải ngoại về kinh tế tài chánh, trình độ giáo dục, khoa học kỹ thuật, và vận động chính trị. Bộ Chính Trị cộng sản đành phải cúi mặt khi ra nghị quyết kêu gọi Cộng Đồng tị nạn cộng sản đoàn kết với cộng sản. Lãnh đạo Các Anh “muốn nói chuyện” với người tự do chúng tôi, mà vẫn cứ như đang nói với “những thần dân” xã hội chủ nghĩa vậy

Ngày 26/3/2004, lãnh đạo CSVN phổ biến Nghị Quyết số 36, qui định một chính sách toàn diện đối với Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn Cộng Sản Tại Hải Ngoại, mà họ gọi là “những người Việt Nam ở nước ngoài”.

Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời,là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước ta với các nước. Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị và của toàn dân. Các tổ chức đảng, nhà nước, và các đoàn thể nhân dân, các ngành các cấp từ trung ương đến địa phương, ở trong nước và ngoài nước, và toàn dân ta cần coi đây là một nhiệm vụ quan trọng nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc....”.

Trong số Các Anh, tôi tin là có những anh có cơ hội ra hải ngoại nói chung và Hoa Kỳ nói riêng, đều biết Cộng Đồng chúng tôi tị nạn cộng sản, chỉ trang bị một tư tưởng dân chủ tự do, một kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến, một hệ thống truyền thông toàn cầu, và một tinh thần trách nhiệm với quê hương Việt Nam cội nguồn, chớ không trang bị bất cứ loại vũ khí giết người nào cả. Vậy mà lãnh đạo Các Anh lại tập trung toàn bộ hệ thống chính trị và toàn quân toàn dân, chỉ vì điểm căn bản đầu tiên của Nghị Quyết nhận ra “Người Việt Nam ở nước ngoài ....là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước ta với các nước”. Họ nói họ cần khối trí thức hải ngoại, nhưng trong bản chất của cộng sản thì người trí thức không có giá trị gì cả, và trong thực tế từ Nga Cộng, Trung Cộng, Cu Ba Cộng, đến Việt Cộng, đâu có sử dụng người trí thức chân chánh. Họ dùng dối trá để che đậy điều họ cần là khối tài chánh cho riêng họ, và khối trí thức phải dưới quyền khống chế của họ.  

Năm 2005. Ký giả Thạch Anh phỏng vấn ông Võ Văn Kiệt, cựu Thủ Tướng CSVN. Đây là cuộc phỏng vấn giữa người cộng sản với nhau, để ông Kiệt có cơ hội nói lên những ưu tư mà ông ta gọi là “bức xúc” trước thời cuộc. Ký giả Thạch Anh hỏi: “Thưa ông, thấm thoát đã 30 năm kể từ ngày tiếp quản Sài Gòn, và ông là một trong số ít các nhà lãnh đạo còn lại , ông có suy nghĩ gì về sự kiện này?” Ông Kiệt: “Suy nghĩ của tôi là chiến tranh đã qua cách đây đã mấy chục năm, chúng tôi đã chuyển giao quyền lãnh đạo cho thế hệ kế tiếp. Nói như thế có nghĩa là tôi mong cho chiến tranh thật sự phải thuộc về quá khứ, một quá khứ mà chúng ta mong muốn khép lại....”.

Tôi có thư ngỏ gởi cho ông ta để hòi một câu: “Ai có trách nhiệm khép lại cái quá khứ đó  Chẳng lẽ Cộng Đồng hải ngoại chúng tôi?  Chính các ông, phải có trách nhiệm khép lại, bằng cách làm ngược lại những gì mà các ông đã làm từ sau ngày 30/4/1975 đối với tất cả người dân Việt Nam Cộng Hòa cũ....”.

Cũng trong năm 2005, ông Phan Văn Khải, Thủ Tướng CSVN công du Hoa Kỳ một tuần kể từ 19/6/2005. Trước khi rời Việt Nam, trong bản tin đài BBC và đài RFI ngày 19 và 20/6/2005, trong phần trả lời của ông Khải, có câu: “... tôi sẳn lòng khép lại quá khứ để nhìn về tương lai …”. Tôi cũng có thư ngỏ gởi ông Khải và cũng nêu câu hỏi như tôi đã hòi ông Kiệt. ..

Năm 2007. Ông Nguyễn Minh Triết, Chủ Tịch nước trước khi đến Hoa Kỳ ngày 18/6/2007, ông có trả lời trong cuộc phỏng vấn của Vietnamnet và đăng trên Đàn Chim Việt Online ngày 15/6/2007, có đoạn ông nói: “… Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn luôn coi trọng Cộng Đồng Người Việt ở nước ngoài là bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam, là máu của máu Việt Nam…” Trong một đoạn sau đó, ông nói: “Cộng Đồng người Việt ở nước ngoài là khúc ruột ly hương ngàn dặm….”

Lúc ấy tôi gởi ông Nguyễn Minh Triết hai thư ngỏ ngày 23 & 24/6/2007. Trong thư có đoạn: “... Tôi không hiểu tại sao đến nay là 32 năm sau khi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đánh chiếm nước Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi, ông và “đồng chí” của ông trong Bộ Chính Trị, cứ theo dụ dỗ Cộng Đồng tị nạn cộng sản, hãy quên cái quá khứ kinh hoàng của mình để đoàn kết giúp các ông có uy tín với thế giới mà ông nói là xây dựng đất nước? Về phần tôi, tôi không hận thù các ông dù tôi bị đày trong các trại tập trung hơn 12 năm, nhưng tôi không bao giờ quên cái quá khứ mà ông và các “đồng chí” của ông đã xén phần đất “trên đầu tổ quốc”, và xén “một bên tai” của quê hương dâng cho Trung Cộng, biến “mảng da đầu” của đất nước trở nên lởm chởm chưa từng có trong lịch ngàn năm chống vua quan phong kiến Trung Hoa. Chưa hết, các ông đã đối xử quá dã man tàn bạo với người dân Việt từ thể xác đến tinh thần! Cũng các ông, suốt 20 năm từ năm 1975, đã sử dụng hệ thống truyền thông để sỉ nhục và miệt thị Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản, sao bây giờ ông ra cái điều như là người cộng sản tử tế khi gọi chúng tôi là khúc ruột ly hương ngàn dặm? Khi là đảng viên cộng sản thì các ông đã vứt bỏ tên tuổi của mình mà chấp nhận tên của đảng đặt cho, vứt bỏ mẹ cha mà chấp nhận chỉ có “bác” với đảng, vứt bỏ tinh thần dân tộc mà chấp nhận tinh thần cộng sản quốc tế đặt trên ảo tưởng thống trị thế giới”. Như vậy, làm quái gì có người cộng sản tử tế trên quê hương cội nguồn của dân tộc Việt Nam ......” . Thật rõ ràng, người cộng sản là cộng sản, người tử tế là tử tế, không có sự pha trộn hay trở thành nào giữa hai người ấy.           

Năm 2008. Ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ Tướng CSVN cùng phái đoàn gần 100 người  đến Hoa Kỳ. Buổi họp trong khách sạn Hilton tại Houston ngày 26/6/2008, với chiếc bàn hình vuông, ông Thủ Tướng và ông Phó Thủ Tướng Phạm Gia Khiêm ngồi giữa, ông Thủ Tướng Dũng cất lời kêu gọi: “Bà con hãy hướng về quê hương bằng mọi đường mọi nẻo, chúng ta hãy gác lại quá khứ để cùng nhau chung sức xây dựng đất nước. Làm được cái gì thì làm dù là việc nhỏ, ngay cả một tiếng nói ủng hộ cũng là đóng góp. Đừng mặc cảm quá khứ nhất là khi đất nước còn nhiều khó khăn....”

Từ 10-27/3/2014. Đoàn công tác liên ngành do Thứ trưởng Ngoại Giao Nguyễn Thanh Sơn, Chủ Nhiệm Ủy Ban Nhà Nước về người Việt Nam ở nước ngoài, dẫn đầu, có chuyến thăm làm việc tại Mỹ và Canada.

Các Anh thấy không, sau khi ban hành Nghị Quyết 36 thì hết lãnh đạo này đến lãnh đạo khác sang Hoa Kỳ, vừa du lịch miễn phí trên đất nước giẫy chết từ mấy chục năm trước nhưng lại phát triển vượt bực, vừa cầu cạnh Hoa Kỳ để có đầu tư ngoại quốc với kỹ thuật tân tiến, vừa chiêu dụ Cộng Đồng gồm những người mà họ đã liên tục chửi rủa hằng chục năm trước. Với lãnh đạo cộng sản, khi không cần thì mạt sát miệt thị, khi cần  thì họ vừa nâng vừa bợ trong mục đích khống chế Cộng Đồng tị nạn cộng sản. “Liệu có phải mục đích của họ là để hưởng “những khúc ruột già của Cộng Đồng ly hương ngàn dặm chăng?”   

Hòa giải hòa hợp theo nét nhìn của nhà đạo diễn.

Nhớ lại vào đầu tháng 6/2011, tại Kim Bôi (Hòa Bình) đã diễn ra Hội thảo Văn học Việt Nam-Hoa Kỳ sau chiến tranh. Đây là hoạt động trao đổi giữa các nhà văn Mỹ và Việt Nam, do Trung tâm William Joiner thuộc trường đại học Mỹ Massachusetts phối hợp với Đại học Văn hóa Hà Nội tổ chức. Các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu Mỹ-Việt đã cùng ôn lại những ký ức chiến tranh, và bày tỏ những cảm thông, cũng như hy vọng về một sự hợp tác trong tương lai.....

Công bằng và minh bạch với quá khứ.  Đạo diễn Trần Văn Thủy cho rằng: “.... Kinh nghiệm cho chúng ta thấy sự hòa giải hòa hợp giữa Đông và Tây Đức, và của chính nước Mỹ sau cuộc nội chiến năm 1861-1865, thì chúng ta phải đặc biệt công bằng và minh bạch với quá khứ. Nếu như chúng ta biết chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt rồi, mà chúng ta không công bằng và không minh bạch với quá khứ, thì chắc chắn cũng không thể dẫn đến sự hòa giải thực sự bền vững được. Đây là những điều căn bản nhất mà tôi tâm niệm, tôi rất tha thiết và cũng đã trình bày điều đó trong cuộc hội thảo này...”.

Thứ hai. Thế nào là hòa giải và hòa hợp?

Bây giờ là quan điểm của tôi về lãnh đạo Các Anh chiêu dụ Cộng Đồng tị nạn cộng sản, mà họ phải họp cấp trung ương để ban hành Nghị Quyết 36, trong mục đìch huy động toàn bộ tổ chức của quốc gia và bằng mọi phương cách chiêu dụ chúng tôi hãy quên quá khứ, hãy khép lại quá khứ, để chấp nhận sự khống chế của họ. Với tôi, từ hòa giải đến hòa hợp còn một khoảng cách nữa, vì có hòa giải được những bất đồng quan điểm mới bàn thảo đến phương cách hòa hợp.  

Là một thành viên nhỏ bé li ti trong Cộng Đồng tị nạn cộng sản, tôi vẫn hiểu rằng, lịch sử là không thể thay đổi, nhưng có những điều sai trong lịch sử vẫn sửa được trong hiện tại, để từ đó nói đến tương lai. Nghĩa là lãnh đạo Các Anh phải làm ngược lại những gì mà họ đã làm sai từ tháng 4/1975 đến nay (2014), mới có hy vọng Cộng Đồng tị nạn nghĩ đến việc khép lại quá khứ. Việc mà lãnh đạo Các Anh làm sai thì không sao kể hết, nhưng theo cách nhìn của tôi thì 5 vấn đề dưới đây mà lãnh đạo Các Anh phải sửa sai đối với Cộng Đồng tị nạn cộng sản, và vấn đề thứ 6 là lãnh đạo Các Anh phải sửa sai với 90 triệu đồng bào trong nước:

Thứ nhất. Vào những ngày trước và sau ngày 30/4/1975, hằng chục ngàn thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa đang điều trị trong Tổng Y Viện và cả hệ thống Quân Y Viện, lãnh đạo Các Anh đã vô cùng tàn nhẫn khi ra lệnh cho Các Anh quẳng anh em thương phế binh chúng tôi ra ngoài đường sau khi chiếm Việt Nam Cộng Hòa, rồi họ muốn chúng tôi “hãy quên quá khứ” làm sao chúng tôi quên được! Bây giờ lãnh đạo Các Anh  phải bồi thường tổn hại vật chất lẫn tinh thần cho Họ đồng thời Bộ Chính Trị phải chánh thức nói lời xin lỗi Họ. Đó là hành động sửa sai để cùng quên quá khứ.

Thứ hai. Lãnh đạo Các Anh đã cướp đoạt nhà cửa ruộng vườn cùng những tài sản khác của chúng tôi, do họ sử dụng nhiều nhóm chữ khác nhau để che đậy sự gian trá lọc lừa. Tài sản của chúng tôi bị lãnh đạo Các Anh cướp đoạt, rồi muốn chúng tôi “quên quá khứ” làm sao chúng tôi quên được! Bây giờ lãnh đạo Các Anh phải hoàn trả tất cả những tài sản ấy lại cho chủ nhân, đồng thời bồi thường thiệt hại đúng mức trên những tài sản ấy thích ứng theo thời gian. Đó là hành động sửa sai để cùng quên quá khứ.

Thứ ba. Lãnh đạo Các Anh không thông qua bất cứ cơ quan luật pháp nào khi bắt giam hơn 500.000 quân nhân viên chức cán bộ Việt Nam Cộng Hòa cũ, và những người trong giới kinh doanh thương mãi, dịch vụ, đẩy vào hơn 200 trại tập trung từ nam ra bắc, trong mục đích đày đọa chúng tôi chết dần chết mòn mà họ gọi là “cải tạo”. Nhưng thế giới cộng sản ngày càng suy sụp kinh tế, buộc họ phải thả chúng tôi thì họ mới được thế giới tự do giúp đỡ mà tồn tại. Và hơn trăm người cuối cùng phải 17 năm sau mới ra khỏi trại,  rồi họ muốn chúng tôi “quên quá khứ” làm sao chúng tôi quên được! Bây giờ lãnh đạo Các Anh phải bồi thường thiệt hại vật chất lẫn tinh thần cho ngần ấy tù nhân chính trị chúng tôi trong ngần ấy thời gian bị giam giữ. Đó là hành động sửa sai để cùng quên quá khứ!  

Thứ tư. Lãnh đạo Các Anh không thể nào quên trong 10 năm đầu kể từ những ngày cuối tháng 4/1975, khi mà những công dân Việt Nam Cộng Hòa cũ không thể sống nỗi sự kềm kẹp chính trị, nên đành phải vượt lên sự chết để tìm sự sống tự do với cái giá phải trả thật là khủng khiếp! Lúc ấy, họ gọi chúng tôi là bọn ngụy quân ngụy quyền, bọn phản quốc, bọn ôm chân đế quốc, bọn ăn bơ thừa sữa cặn, bọn đỉ điếm lưu manh rác rưởi của xã hội, ..v..v... Thôi thì họ dùng những chữ nào mà chửi rủa được là mang ra sử dụng để sỉ vã nhục mạ chúng tôi, rồi muốn chúng tôi “quên quá khứ” làm sao chúng tôi quên được! Bây giờ lãnh đạo Các Anh phải bồi thường vật chất lẫn tinh thần cho hằng trăm ngàn gia đình của những người đã chết trên đường vượt biên vượt biển, phải chánh thức xin lỗi Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn cộng sản tại hải ngoại, và rút lại những lời mà họ đã sỉ nhục chúng tôi. Đó là hành động sửa sai để cùng quên quá khứ! 

Thứ năm. Nghĩa trang quân đội Biên Hòa, nơi an nghỉ của hơn 16.000 người Việt Nam đã tròn bổn phận công dân với quốc gia dân tộc. Tưởng được yên bình vĩnh cửu trong lòng đất quê hương, nhưng với bản chất dã man của lãnh đạo Các Anh đã đào xới mồ mả để vừa thỏa lòng thù hận của kẻ chiến thắng, vừa chiếm đoạt đất đai làm tài sản riêng, rồi muốn chúng tôi “quên quá khứ” làm sao chúng tôi quên được! Bây giờ lãnh đạo Các Anh phải hoàn chỉnh lại phần cấu trúc toàn cảnh nguyên trạng như trước lúc bị tàn phá, kể cả tượng Thương Tiếc. Đó là hành động sửa sai để cùng quên quá khứ!    

Và thứ sáu. Nhóm chữ “hòa giải và hòa hợp” phải đặt đúng vị trí của nó, vì có “hòa giải” được với nhau mới có thể “hòa hợp” được với nhau. Như vậy, từ hòa giải đến hòa hợp còn một khoảng cách nữa. Nhưng lãnh đạo Các Anh chỉ dùng chữ “hòa hợp“ mà thực chất chỉ là chiêu dụ Cộng Đồng tị nạn cộng sản hòa hợp dưới quyền cai trị của họ, chớ không có hòa giải hiểu theo nghĩa hai bên cùng thỏa thuận công bằng và minh bạch. Nhưng tại sao họ dốc toàn lực của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam để bám theo chiêu dụ Cộng Đồng tị nạn cộng sản tại hải ngoại, sao lãnh đạo Các Anh không hòa giải và hòa hợp với người dân trong nước trước, vì đây là vấn đề hoàn toàn trong tầm tay của h mà. Quan điểm của tôi như sau:

(1) Cưỡng bách thu hồi đất. Thật vắn tắt. Năm 2010. Theo tài liệu Bộ Tài Nguyên & Môi Trường ngày 08/07/2010, chỉ riêng trong 6 tháng đầu năm 2010, có khoảng 100 đoàn dân oan từ các thành phố: Rạch Giá, Cần Thơ, Long An, Sài Gòn, Đồng Nai, Nam Định, Hà Nam, Hưng Yên, Hà Nội ..”, đến cơ quan trung ương đưa đơn khiếu nại oan ức về đất đai bị cưỡng bách thu hồi. Năm 2011. Bản tin AFP 25/11/2011, một báo cáo về tham nhũng trong đất đai do Ngân Hàng Thế Giới, tòa đại sứ Thụy Điển và tòa đại sứ Đan Mạch tại Hà Nội, thì “Việt Nam hiện nay có khoảng 70% dân số sống ở nông thôn. Việc trưng dụng đất đai mà đền bù thấp, đã dẫn đến những vụ xung đột tranh chấp đất đai, thậm chí dẫn đến chết người”. Năm 2012. Sau vụ Tiên Lãng với tiếng súng hoa cải và bom tự chế nổ từ phía người dân bị cưỡng bách thu hồi vào ngày 5/1/2012, rồi tiếng súng lại nổ nhưng không phải từ phía người dân mà từ phía lực lượng cưỡng bách thu hồi đất của 1.244 gia điình nông dân tại Văn Giảng ngày 24/4/2012. Hai nhà báo của truyền thông đảng là Nguyễn Văn Năm và Hàn Phi Long, cũng bị lực lượng cưỡng chế hành hung mang thương tích.

Vậy, lãnh đạo Các Anh hãy hòa giải với đồng bào oan ức về đất đai, bằng cách: “(a) Hủy bỏ Luật Đất Đai và tất cả các luật liên quan, vì đây là nguồn gốc của những mánh khóe cướp đoạt từ các cấp lãnh đạo, là một trong những nguyên nhân tham nhũng kinh hoàng trong hệ thống đảng & nhà nước. (b) Trả lại quyền tư hữu đất đai cho toàn dân như khi chiếm Việt Nam Cộng Hòa. (c) Bồi thường cho sở hữu chủ về thiệt hại vật chất đã tịch thu sử dụng riêng tư, hoặc bán cho các nhà đầu tư. (d) Bộ Chính Trị chánh thức xin lỗi đồng bào vì chính sách sai lầm”.

(2) Đàn áp người yêu nước. Với những cuộc biểu tình của đồng bào yêu nước -nhất là tuổi trẻ- chống đối Trung Cộng lấn chiếm biển đảo, trong khi lãnh đạo đảng lặng thinh cứ như không nghe không thấy không biết gì hết, nhưng lại thẳng tay trấn áp bằng những hành động loại lưu manh côn đồ, quản chế và bắt bỏ tù. Ngày 17/06/2013, ngày đối thoại nhân quyền Việt Nam-Australia. Dân biểu Chris Hayes, đã lên án tình trạng vi phạm nhân quyền của nhà cầm quyền Việt Nam với công dân của họ, chỉ trong một năm mà 38 nhà hoạt động ôn hòa cho dân chủ đã bị bắt vào tù.

Vậy, lãnh đạo Các Anh hãy hòa giải và hòa hợp với thành phần dũng cảm đáng trân trọng này, bằng cách: “(a) Trả tự do vô điều kiện cho tất cả tù chính trị mà họ bị ghép vào tội hình sự, bồi thường thiệt hại vật chất lẫn tinh thần nhập cho họ trong suốt thời gian bị giam giữ, và chánh thức xin lỗi họ. (b) Bảo vệ ngư phủ Việt Nam đánh cá trong phần lãnh hải của mình, Hải Quân Nhân Dân anh hùng hãy xua đuổi thậm chí là tấn công các tàu lạ xâm nhập hải phận Việt Nam bắt ngư phủ và ủi chìm tàu của ngư dân Việt.

(3) Chia cắt các tôn giáo. Tại sao lãnh đạo Các Anh sử dụng mọi mánh khóe gian trá để cắt ra từng mảng rồi tổ chức thành “tôn giáo quốc doanh” trong khi họ luôn miệng nói đến đoàn kết?” Hóa ra đoàn kết của lãnh đạo Các Anh là chia cắt để trị như thực dân Pháp sao? 

Vậy, lãnh đạo Các Anh hãy hòa giải với các tôn giáo, bằng cách: “(a) Giải tán các tổ chức tôn giáo quốc doanh. (b) Rút tất cả Công An lồng trong các tổ chức đó cũng như đã tung ra hải ngoại trở về ngành lo bảo vệ an toàn cho dân và dọn dẹp xã hội sạch sẽ. (c) Hoàn trả đất đai tài sản lại cho các tôn giáo và bồi thường thiệt hại vật chất từ khi tịch thu trái phép đến khi hoàn trả. (d) Hủy bỏ các văn kiện liên quan đến tôn giáo quốc doanh và tôn giáo ngoài quốc doanh.

Nếu lãnh đạo Các Anh sửa sai được như vậy, tôi tin rằng đồng bào trong nước và Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản sẽ vui lòng quên đi cái quá khứ kinh hoàng đó để tiến đến hòa giải và hòa hợp. Chớ họ nói theo cái ngôn ngữ mà ông Hà Sĩ Phu gọi là thứ “ngôn ngữ lộn ngược trong xã hội xã hội chủ nghĩa” ngày nay, làm sao người dân trong nước và ngoài nước tin được, nói gì đến cái việc quên quá khứ! Nếu lãnh đạo Các Anh không làm được những điều đó, thì đừng bao giờ kêu gọi trong nước và hải ngoại “quên quá khứ mà đoàn kết với họ”. Rất có thế vào một ngày đẹp trời nào đó, đồng bào trong nước sẽ vùng lên lật đổ họ như người dân các quốc gia Bắc Phi đã vùng lên và thành công.

Quan điểm của tôi rất rõ ràng, không chứa đựng những gì mà lãnh đạo Các Anh có thể xem là tôi mang lòng thù hận. Và tôi nhấn mạnh rằng, tôi đòi lại, chớ không phải tôi xin họ. Các Anh hãy nhớ rằng, người dân trong nước bị tước đoạt quyền làm người và Cộng Đồng chúng tôi tị nạn cộng sản tại hải ngoại có đủ tư cách để quên cái quá khứ tàn bạo của họ, chớ lãnh đạo cộng sản Việt Nam không có tư cách đó, vậy mà họ luôn miệng nói họ sẳn sàng quên quá khứ.

Kết luận.

Tôi thông cảm với Các Anh, là những người sinh ra, lớn lên, học hành, và trở thành Người Lính trong quân đội, tất cả những gì Các Anh học ở trường văn hoá, trường quân sự, lại thường học tập chính trị tại các đơn vị, cộng với những chính sách về các lãnh vực sinh hoạt xã hội, mà Các Anh theo dõi hằng ngày. Trôi dần theo thời gian, chính sách độc tài của cộng sản lan tỏa đến mọi ngóc ngách trong sinh hoạt xã hội, rồi biến thành một nếp trong đời sống thường ngày đối với người dân nói chung, với Các Anh nói riêng từ lúc nào không ai biết. 

Nhưng với phương tiện truyền thông trên thế giới ngày nay, trong một chừng mực nào đó, Các Anh có cơ hội tiếp xúc với thế giới tự do ngang qua hệ thống internet mà Các Anh gọi là “trang mạng”, như Các Anh đang đọc lá Thư này. Tôi tin là trong những lúc mà Các Anh sống thật với trái tim và khối óc của chính mình, nhất thiết Các Anh đã và đang có những suy nghĩ ...... Tôi luôn hy vọng là thời gian sẽ giúp Các Anh có được nét nhìn của người tự do như chúng tôi, để nhận ra cộng sản là độc tài và dối trá với nhân dân trong nước và những nhà chính trị quốc tế. Từ đó, Các Anh hãy chọn cho mình một hướng đi, cùng 90 triệu đồng bào thật sự hòa nhập vào Cộng Đồng thế giới tự do, để được ngẫng cao đầu giữa thế giới văn minh lịch sự, và hãnh diện trước những người ngoại quốc đến Việt Nam, tìm hiểu nếp sống văn hóa dân tộc với chiều dài lịch sử ngàn năm trước đã lừng danh thế giới.

Tôi vững tin là Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại -đặc biệt là Những Người  Cựu Lính Chúng Tôi- sẽ hết lòng hỗ trợ Các Anh và quí vị đồng bào để làm nên lịch sử.  

Đừng bao giờ quên lời của Đức Đạt Lại Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng: “Cộng sản là loài cỏ dại, mọc trên hoàng tàn của chiến tranh, là loài trùng độc, sinh sôi nẫy nở trên rác rưởi của cuộc đời”.

Và hãy nhớ: “Tự do, không phải là điều đáng sợ, mà là nền tảng cho sự thịnh vượng của đất nước. Không có dân chủ, không thể có sự trỗi dậy và phát triển bền vững. Và chính chúng ta phải tranh đấu, vì Dân Chủ Tự Do không phải là quà tặng.

                                                       Texas, tháng 4 năm 2014

         ********* 

Phạm Bá Hoa

© Tác giả gửi bài đến Ban biên tập.

                                                 © Diễn Đàn Người Dân ViệtNam

 

Share

scroll back to top
 

TIN MỚI NHẤT